Banner Tỉnh ủy Nghệ An (Home-latest-1)

Kết quả sau 3 năm thực hiện Nghị quyết 06-NQ/TU, ngày 14/12/2016 của BCH Đảng bộ tỉnh

Sau gần 3 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU, ngày 14/12/2016 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về “phát triển khoa hoạc và công nghệ giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025” (gọi tắt là Nghị quyết số 06-NQ/TU), trên địa bàn tỉnh đã có những chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động.

Sau gần 3 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU, ngày 14/12/2016 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về “phát triển khoa hoạc và công nghệ giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025” (gọi tắt là Nghị quyết số 06-NQ/TU), trên địa bàn tỉnh đã có những chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động. Các địa phương, đơn vị đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, chỉ tiêu nghị quyết đã đề ra như:

Yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 34,9% (Nghị quyết đề ra đến năm 2020 đạt 35%); tốc độ đổi mới công nghệ/thiết bị đạt 15% công nghệ sản xuất các sản phẩm chủ yếu của tỉnh được đầu tư, đổi mới công nghệ tiên tiến, hiện đại; giá trị sản phẩm công nghệ cao và ứng dụng công nghệ cao đạt 20%. Đã xây dựng được các sản phẩm hàng hóa có chất lượng cao, khối lượng lớn và thương hiệu mạnh như: Cam Vinh, trà hoa vàng, chanh leo, lúa Japonica, chè Nghệ An, trám đen Thanh Chương, rau hữu cơ, lạc Nghệ An, mía đường, gạo Nghệ An, bưởi hồng Quang Tiến, cá thu, nước mắm Vạn Phần...

Chỉ tiêu 100% sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 được chứng nhận và công bố hợp quy đạt kết quả tốt. Ngân sách đầu tư cho hoạt động KH&CN ngày càng được chú trọng. Việc phát triển các tổ chức và đội ngũ cán bộ KH&CN cơ bản đáp ứng yêu cầu. Hiện nay, trên toàn tỉnh có tổng số 71 đơn vị là các tổ chức KH&CN tham gia hoạt động nghiên cứu triển khai, ứng dụng KH&CN. Sàn giao dịch công nghệ đi vào hoạt động bước đầu đã có tầm ảnh hưởng đến các tỉnh bạn; nhân lực KH&CN ngày một nâng cao về số lượng và chất lượng.

Việc triển khai, thực hiện 4 nhiệm vụ của Nghị quyết từng bước đạt được những kết quả nhất định: Hoạt động nghiên cứu KH&CN gắn với ứng dụng được đẩy mạnh, đồng thời chuyển hướng khắc phục sự dàn trải thông qua xác định 6 lĩnh vực ưu tiên đầu tư KH&CN, gồm: Nông nghiệp công nghệ cao; y dược; khoa học, xã hội và nhân văn; KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội các huyện, thị, thành; công nghệ thông tin; môi trường.

Sản xuất nông, lâm nghiệp được quan tâm đầu tư và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới. Từng bước bảo tồn, khai thác và phát triển đa dạng sinh học, quỹ gen quý hiếm nhằm phát huy giá trị khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An, nhất là các loại dược liệu như cây sâm dây (đẳng sâm), lan bản địa; bảo tồn và nhân giống các cây dược liệu trà hoa vàng, cây Bonbo, trà dược liệu mướp đắng, cà gai leo, giảo cổ lam. Triển khai thực hiện tốt chương trình 100 sản phẩm, trên cơ sở lựa chọn các cây, con đặc sản, đặc thù của tỉnh có tác động KH&CN nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh trên thị trường.

Những giải pháp của Nghị quyết từng bước được cụ thể hóa và trên đà triển khai thực hiện có hiệu quả. Công tác lãnh đạo, quản lý nhằm nâng cao nhận thức, tạo chuyển biến về hành động đối với KH&CN của cấp ủy, chính quyền, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội được quan tâm. Tích cực, chủ động đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp; coi phát triển KH&CN là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, thường xuyên của cấp ủy, chính quyền các cấp.

Công tác đầu tư cho KH&CN tiếp tục được tăng cường, chú trọng ưu tiên, bố trí nguồn ngân sách sự nghiệp KH&CN và nguồn sự nghiệp kinh tế cho việc phát triển, ứng dụng KH&CN và xây dựng, phát triển thương hiệu sản vật địa phương. Ngân sách của tỉnh đầu tư cho KH&CN ngày một tăng. Cơ chế chính sách phát triển KH&CN được cấp ủy, chính quyền các cấp ngày một chú trọng. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ cơ chế quản lý, tổ chức hoạt động KH&CN; khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức KH&CN hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.

Đoàn kiểm tra Tỉnh ủy (Theo Quyết định số 2809-QĐ/TU) do đồng chí Nguyễn Thị Thu Hường, UVBTV, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy làm Phó đoàn, khảo sát cơ sở sản xuất Trám tại Thanh Chương

Thường xuyên nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tổ chức bộ máy KH&CN được kiện toàn, đổi mới. Tổ tư vấn cao cấp về kinh tế - xã hội của tỉnh được phát huy, vai trò của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật và các hội thành viên trong hoạt động tư vấn, phản biện, giám định xã hội làm cơ sở khoa học trong xây dựng các cơ chế, chính sách của cấp ủy đảng, chính quyền về phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, xây dựng pháp luật, xây dựng đội ngũ trí thức được đề cao.

Công tác hợp tác trong và ngoài nước được thúc đẩy, Chủ động, tích cực phối hợp, kết nối với các viện, trường và các sở, ngành để tăng cường hợp tác trong, ngoài nước và huy động nguồn lực KH&CN tham gia vào các hội đồng nghiệm thu, tuyển chọn các đề tài, dự án.

Tuy nhiên, việc triển khai Nghị quyết số 06 –NQ/TU còn có một số tồn tại, hạn chế: Nguồn lực đầu tư cho phát triển KH&CN chưa đáp ứng yêu cầu, nguồn huy động xã hội hóa vào công tác nghiên cứu, ứng dụng KH&CN từ các đơn vị, doanh nghiệp và người nông dân đã tăng lên cao hơn so với bình quân chung của cả nước (60%) nhưng tổng nguồn lực đầu tư cũng mới chỉ đáp ứng được con số rất nhỏ.

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp ủy đảng, chính quyền địa phương chưa quyết liệt, chưa chủ động trong triển khai thực hiện các nội dung của Nghị quyết số 06-NQ/TU và các chương trình, đề án, nhiệm vụ đề ra. Trong quản lý hoạt động KH&CN còn thiếu các chính sách, giải pháp mạnh mẽ để tạo đột phá. Kinh phí đầu tư cho KH&CN còn hạn hẹp, chưa có cơ chế phù hợp để huy động nguồn lực xã hội hóa đầu tư cho KH&CN.

Đội ngũ trí thức KH&CN của Nghệ An thiếu cân đối; thiếu cán bộ giỏi về quản lý kinh tế, sâu về chuyên môn, am hiểu về công nghệ cao như công nghệ chế biến, công nghệ sinh học...Việc ứng dụng KH&CN vào nông nghiệp công nghệ cao còn mang tính nhỏ lẻ, chưa đồng bộ và phát triển ở diện rộng, quy mô lớn theo vùng, miền. Sản phẩm hình thành chuỗi giá trị để tạo ra hàng hóa thật sự, có quy mô lớn chưa nhiều. Hợp tác và phát triển KH&CN ngoài nước còn hạn chế. 

Để tiếp tục đưa Nghị quyết vào cuộc sống các cấp, các ngành cần quan tâm thực hiện tốt một số giải pháp:

Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy trong việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết 06-NQ/TU, chú trọng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết tại các địa phương, đơn vị. Tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện về chủ trương, cơ chế, chính sách và nguồn lực cho đầu tư và phát triển KH&CN. Tiếp tục đưa các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển và ứng dụng KH&CN vào các văn kiện đại hội đảng các cấp.

Tiếp tục chỉ đạo các ban, sở, ngành rà soát, tổ chức đánh giá kết quả thực hiện các chương trình, đề án, nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết trong chương trình hành động đề ra; xây dựng phương hướng, nhiệm vụ và lộ trình tiếp tục thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ và giải pháp, nhất là đối với các mục tiêu, chỉ tiêu chưa đạt.

Các huyện, thành, thị ủy, đảng ủy trực thuộc, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể thường xuyên tuyên truyền nâng cao nhận thức trong cấp ủy, chính quyền, các tổ chức trong hệ thống chính trị về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc ứng dụng và phát triển KH&CN vào phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Hỗ trợ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cá nhân phát triển và nhân rộng các mô hình ứng dụng KH&CN. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội; rà soát các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU tại địa phương, đơn vị; đề ra các giải pháp thực hiện có hiệu quả thời gian tới.

                                        Phạm Công Tứ

Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Nghệ An

 

Tin cùng chuyên mục

Dự thảo mức hỗ trợ mới nhất cho cán bộ dôi dư sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã, xóm ở Nghệ An

Dự thảo mức hỗ trợ mới nhất cho cán bộ dôi dư sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã, xóm ở Nghệ An


Kết quả nổi bật sau 5 năm thực hiện Đề án 07-ĐA/TU, ngày 30/5/2014 về nâng cao tính gương mẫu, chống tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại trong cán bộ, đảng viên

Kết quả nổi bật sau 5 năm thực hiện Đề án 07-ĐA/TU, ngày 30/5/2014 về nâng cao tính gương mẫu, chống tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại trong cán bộ, đảng viên


Quỳnh Lưu: Những kết quả nổi bật sau 05 năm thực hiện Chỉ thị số 23 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo

Quỳnh Lưu: Những kết quả nổi bật sau 05 năm thực hiện Chỉ thị số 23 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo


Một số kết quả nổi bật sau 10 năm xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An

Một số kết quả nổi bật sau 10 năm xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An


Thủ tướng: Phải mạnh dạn, quyết tâm, dám đặt mục tiêu cao hơn

Thủ tướng: Phải mạnh dạn, quyết tâm, dám đặt mục tiêu cao hơn


Triển khai Đề án “sắp xếp cơ sở đảng giai đoạn 2019-2020” trong toàn tỉnh

Triển khai Đề án “sắp xếp cơ sở đảng giai đoạn 2019-2020” trong toàn tỉnh



Nghệ An qua 10 năm thực hiện Chỉ thị số 42 –CT/TW ngày 16/4/2010 của Bộ Chính trị “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam

Nghệ An qua 10 năm thực hiện Chỉ thị số 42 –CT/TW ngày 16/4/2010 của Bộ Chính trị “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam


Chín nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm của ngành Giáo dục và Đào tạo Nghệ An năm học 2019-2020

Chín nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm của ngành Giáo dục và Đào tạo Nghệ An năm học 2019-2020


Kết quả 05 năm thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 09/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước

Kết quả 05 năm thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 09/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước


Kết quả sau 15 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 27/01/2003 của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xuất bản, phát hành sách lý luận, chính trị trong tình hình mới

Kết quả sau 15 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 27/01/2003 của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xuất bản, phát hành sách lý luận, chính trị trong tình hình mới



Kết quả 10 năm thực hiện Kết luận số 62-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội

Kết quả 10 năm thực hiện Kết luận số 62-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội


Kết quả 5 năm thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đào tạo nhân lực có tay nghề cao

Kết quả 5 năm thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đào tạo nhân lực có tay nghề cao


Những chuyển động tích cực của tổ chức bộ máy sau 3 năm thực hiện Nghị quyết 39-NQ/TW của Bộ Chính trị

Những chuyển động tích cực của tổ chức bộ máy sau 3 năm thực hiện Nghị quyết 39-NQ/TW của Bộ Chính trị