Banner Tỉnh ủy Nghệ An (Home-latest-1)

Một số kết quả bước đầu sau 01 năm thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 14/12/2016 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khoá XVIII)

Qua một năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 06 -NQ/TU ngày 14/12/2016 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khoá XVIII) về "Phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2025" (gọi tắt là Nghị quyết số 06-NQ/TU) trên địa bàn tỉnh có nhiều khởi sắc; nhất là việc ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ vào chăn nuôi, trồng trọt, chế biến và sản xuất từng bước đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người lao động và doanh nghiệp

Qua một năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 06 -NQ/TU ngày 14/12/2016 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khoá XVIII) về "Phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2025" (gọi tắt là Nghị quyết số 06-NQ/TU) trên địa bàn tỉnh có nhiều khởi sắc; nhất là việc ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ vào chăn nuôi, trồng trọt, chế biến và sản xuất từng bước đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người lao động và doanh nghiệp. Một số kết quả bước đầu triển khai Nghị quyết tiêu biểu trên một số lĩnh vực.

Công tác triển khai, quán triệt Nghị quyết số 06 –NQ/TU được tiến hành kịp thời, nghiêm túc, rộng khắp với nhiều hình thức đa dạng, tạo được sự chuyển biến về nhận thức, thống nhất hành động trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, tỷ lệ tham gia học tập đạt trung bình trên 90%. Kịp thời ban hành các chỉ thị, nghị quyết, chương trình hành động, đề án... triển khai thực hiện Nghị quyết phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội địa phương, đơn vị.

Công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, tăng cường tiềm lực, bố trí nguồn ngân sách từ sự nghiệp cho ứng dụng và phát triển khoa học công nghệ địa phương; ban hành các văn bản quản lý nhà nước và các cơ chế, chính sách về hoạt động khoa học công nghệ trên địa bàn. Quan tâm, tạo điều kiện cho việc bồi dưỡng nguồn nhân lực, nâng cao trình độ chuyên môn cho các cán bộ quản lý khoa học và công nghệ ở địa phương, tăng cường công tác thanh, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm và quản lý công tác tiêu chuẩn- đo lường- chất lượng hàng hóa.

Chú trọng việc đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ cơ chế, quản lý, tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ. Công tác truyền thông về khoa học và công nghệ được chú trọng, đổi mới, đa dạng; Cấp ủy, chính quyền các cấp đã quan tâm ủng hộ, khuyến khích doanh nghiệp xây dựng đổi mới lộ trình công nghệ, tham gia chương trình đổi mới công nghệ, chương trình sản phẩm quốc gia; hỗ trợ thương mại hóa sản vật địa phương và xúc tiến tìm kiếm thị trường đầu ra cho sản phẩm.

Nhiều huyện trong tỉnh đã học tập, ứng dụng mô hình công nghệ cao, công nghệ sinh học trong phát triển nông, lâm, ngư nghiệp mang lại năng suất, chất lượng sản phẩm và thay đổi tư duy, nhận thức của người dân trong sản xuất. Nhiều nơi đã được hỗ trợ hình thành khu thực nghiệm và ươm tạo công nghệ cao, công nghệ sinh học trong nông nghiệp để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, góp phần tăng hiệu quả và thu nhập; thông qua đó kêu gọi thu hút tham gia đầu tư của doanh nghiệp. Điển hình là khởi công khu thực nghiệm và ươm tạo nông nghiệp công nghệ cao tại xã Đông Hiếu, thị xã Thái Hòa với diện tích là 200.000 m2. Các địa phương chủ động xây dựng kế hoạch, cơ chế, chính sách tạo điều kiện hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp; thu hút, đào tạo, sử dụng nhân lực công nghệ cao, hỗ trợ đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ ứng dụng và phát triển khoa học công nghệ trên địa bàn.

Chú trọng ưu tiên, bố trí nguồn ngân sách sự nghiệp khoa học - công nghệ và nguồn sự nghiệp kinh tế cho việc phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ và xây dựng, phát triển thương hiệu sản vật địa phương. Đồng thời, huy động lồng ghép các nguồn khác, xã hội hóa nguồn lực hoạt động khoa học công nghệ. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ cơ chế quản lý, tổ chức hoạt động khoa học công nghệ; khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Ưu tiên lựa chọn các doanh nghiệp, các hợp tác xã, trang trại... có đủ tiềm lực, thực hiện tốt việc tiếp thu các kỹ thuật, công nghệ tiên tiến; hạn chế tối đa việc đầu tư dàn trải trong dân.

Ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp theo tiêu chuẩn VietGap về lai tạo, sản xuất, nuôi trồng cây-con chất lượng cao, đa dạng hóa sản phẩm ở nhiều huyện như Con Cuông, Nghĩa Đàn, Quỳnh Lưu, Anh Sơn, Nam Đàn... Ứng dụng thành công nhiều biện pháp kỹ thuật như tưới nhỏ giọt theo công nghệ Israel, hệ thống điều khiển tưới tự động, tưới phun mưa, cơ giới hóa sản xuất, khôi phục và phát triển một số cây dược liệu có giá trị, như trà hoa vàng, đẳng sâm, cà gai leo... Ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ tiên tiến trong sản xuất, bảo quản chế biến nông, hải sản...Ứng dụng tiến bộ KHCN trong sản xuất phân hữu cơ vi sinh, chế phẩm Biogreen và đệm lót sinh học trong chăn nuôi để bảo vệ môi trường.

Chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn, thâm canh nâng cao hiệu quả sản xuất để lựa chọn giống cây - con phù hợp mang lại năng suất, chất lượng; đầu tư áp dụng các tiến bộ KH&CN trong sử dụng các giống mới. Đồng thời nhân rộng các mô hình sản xuất có hiệu quả kinh tế cao. Chú trọng phát triển các sản phẩm về nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao; chế phẩm sinh học, dược liệu, công nghiệp chế biến, các cây con đặc sản, các sản phẩm truyền thống địa phương. Một số sản phẩm được Cục sở hữu trí tuệ công nhận quyền bảo hộ như: Nhung hươu, mực khô, dứa, nước mắm, miến Phú Thành, hương trầm...(Quỳnh Lưu); cam, ổi, bơ (Nghĩa Đàn), cam Con Cuông; sắn dây Nam Đàn, cá thu nướng, nước mắm Cửa Lò...

 Một số huyện đã thực hiện các dự án có sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước để xác lập bảo hộ và phát triển thương hiệu các sản phẩm mang địa danh Nghệ An như: Cam Vinh (Quỳ Hợp); chè Nghệ An (Anh Sơn); bò mông miền Tây Nghệ An; nhung hươu Quỳnh Lưu; gà Thanh Chương...Phát hiện, giúp đỡ các doanh nghiệp bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích, bản quyền giống cây trồng, trên cơ sở đó thương mại hóa tài sản trí tuệ. như: cây bơ, ổi, cam Nghĩa Đàn; sữa TH...

 

Đoàn khảo sát thăm mô hình sản xuất dưa lưới công nghệ cao tại huyện Nghĩa Đàn

Bảo tồn, khai thác và phát triển đa dạng sinh học, quỹ gen quý hiếm nhằm phát huy giá trị khu dự trữ sinh quyển miền Tây nghệ An, nhất là các loại dược liệu như cây Sâm dây (đẳng sâm), lan bản địa, bảo tồn và nhân giống các cây dược liệu như: cây Trà hoa vàng, cây Bonbo (Quế Phong); trà dược liệu mướp đắng, cà gai leo, giảo cổ lam (Con Cuông). Nghệ An đã triển khai thành công ca thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên là một trong những kết quả thực hiện đề án thành phố Vinh trở thành trung tâm y tế kỹ thuật cao

 

Để tiếp tục đưa Nghị quyết đi vào cuộc số các cấp ủy, chính quyền cần Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, chuyển giao và ứng dụng KHCN, công nghệ cao trong nhân dân, doanh nghiệp và kiến thức, phương tiện cho đội ngũ chuyên trách kiểm tra tiêu chuẩn - đo lường- chất lượng hàng hóa để kịp thời phát hiện và xử lý các trường hợp sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng.

Tỉnh ủy, UBND các sở, ban, ngành cấp tỉnh triển khai quy hoạch và có cơ chế ưu tiên cho những huyện có tiềm năng, lợi thế triển khai một số lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao gắn với việc xây dựng khu nông nghiệp công nghệ cao theo Nghị quyết. HĐND, UBND tỉnh ban hành cơ chế, chính sách thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, bổ sung biên chế chuyên trách làm công tác KHCN cho các địa phương.

 Tăng cường thêm nguồn ngân sách đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ hơn nữa. Quan tâm chỉ đạo xử lý, giải quyết những vướng mắc vê môi trường do ảnh hưởng từ các dự án.

 

Tin cùng chuyên mục

Dự thảo mức hỗ trợ mới nhất cho cán bộ dôi dư sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã, xóm ở Nghệ An

Dự thảo mức hỗ trợ mới nhất cho cán bộ dôi dư sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã, xóm ở Nghệ An


Kết quả nổi bật sau 5 năm thực hiện Đề án 07-ĐA/TU, ngày 30/5/2014 về nâng cao tính gương mẫu, chống tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại trong cán bộ, đảng viên

Kết quả nổi bật sau 5 năm thực hiện Đề án 07-ĐA/TU, ngày 30/5/2014 về nâng cao tính gương mẫu, chống tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại trong cán bộ, đảng viên


Quỳnh Lưu: Những kết quả nổi bật sau 05 năm thực hiện Chỉ thị số 23 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo

Quỳnh Lưu: Những kết quả nổi bật sau 05 năm thực hiện Chỉ thị số 23 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo


Một số kết quả nổi bật sau 10 năm xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An

Một số kết quả nổi bật sau 10 năm xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An


Thủ tướng: Phải mạnh dạn, quyết tâm, dám đặt mục tiêu cao hơn

Thủ tướng: Phải mạnh dạn, quyết tâm, dám đặt mục tiêu cao hơn


Kết quả sau 3 năm thực hiện Nghị quyết 06-NQ/TU, ngày 14/12/2016 của BCH Đảng bộ tỉnh

Kết quả sau 3 năm thực hiện Nghị quyết 06-NQ/TU, ngày 14/12/2016 của BCH Đảng bộ tỉnh


Triển khai Đề án “sắp xếp cơ sở đảng giai đoạn 2019-2020” trong toàn tỉnh

Triển khai Đề án “sắp xếp cơ sở đảng giai đoạn 2019-2020” trong toàn tỉnh



Nghệ An qua 10 năm thực hiện Chỉ thị số 42 –CT/TW ngày 16/4/2010 của Bộ Chính trị “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam

Nghệ An qua 10 năm thực hiện Chỉ thị số 42 –CT/TW ngày 16/4/2010 của Bộ Chính trị “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam


Chín nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm của ngành Giáo dục và Đào tạo Nghệ An năm học 2019-2020

Chín nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm của ngành Giáo dục và Đào tạo Nghệ An năm học 2019-2020


Kết quả 05 năm thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 09/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước

Kết quả 05 năm thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 09/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước


Kết quả sau 15 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 27/01/2003 của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xuất bản, phát hành sách lý luận, chính trị trong tình hình mới

Kết quả sau 15 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 27/01/2003 của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xuất bản, phát hành sách lý luận, chính trị trong tình hình mới



Kết quả 10 năm thực hiện Kết luận số 62-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội

Kết quả 10 năm thực hiện Kết luận số 62-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội


Kết quả 5 năm thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đào tạo nhân lực có tay nghề cao

Kết quả 5 năm thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đào tạo nhân lực có tay nghề cao