Banner Ban tuyên giáo sub-site-1

Chiến thắng Điện Biên Phủ - mốc chói lọi bằng vàng

Năm 1954 quân và dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, đập tan tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ mạnh nhất Đông Dương của thực dân Pháp, dựng lên mốc son chói lọi bằng vàng của lịch sử dân tộc

 

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, hầu như thời kỳ nào, thời đại nào, dân tộc ta cũng phải đứng lên chống giặc ngoại xâm giữ gìn và bảo vệ non sông đất nước, và đã lập nên nhiều chiến công hiển hách, mà tiêu biểu là chiến thắng Bạch Đằng năm 938; chiến thắng Như Nguyệt năm 1077, chiến thắng Đông Bộ Đầu, Chương Dương - Thăng Long và chiến công trên sông Bạch Đằng hồi thế kỷ XIII, trận Tốt Động - Chúc Động và chiến thắng Chi Lăng- Xương Giang các năm 1426- 1427; trận Rạch Gầm - Xoài Mút và chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa cuối thế kỷ XVIII; chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975.

Mỗi chiến công nói trên diễn ra trong những thời kỳ và điều kiện lịch sử khác nhau, có những đặc điểm riêng biệt, không trận nào giống trận nào về quy mô, lực lượng, phương tiện, trình độ tác chiến. Nhưng tất cả đều là những trận quyết chiến chiến lược, những trận đánh quyết định thắng lợi trong từng cuộc chiến tranh. Và, về mặt nghệ thuật quân sự, đó là những trận đánh hay với những nét đặc sắc như việc chọn hướng, địa điểm, thời gian, sử dụng lực lượng, bố trí thế trận và hơn hết là cách đánh mưu trí, độc đáo, sáng tạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng “Điện Biên Phủ như cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử Việt Nam[1]. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng viết “Điện Biên Phủ, chiến dịch Hồ Chí Minh, với Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa… Đã trở thành những “cột mốc bằng vàng” trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam”[2].

Trận Điện Biên Phủ - mốc son lịch sử chói lọi, mang đầy đủ những nét tiêu biểu của một trong những trận quyết chiến chiến lược lớn nhất trong lịch sử Việt Nam.

Là trận đánh đã đập tan tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của địch, đánh bại hoàn toàn ý chí xâm lược của thực dân Pháp, buộc chúng phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ chấm dứt chiến tranh

Tập đoàn cứ điểm là một hình thức phòng ngự liên kết nhiều cứ điểm, cụm cứ điểm trên một không gian tương đối rộng, có lực lượng tập trung tương đối lớn bao gồm cả binh lực và hỏa lực, có cả lực lượng chiếm đóng và lực lượng cơ động mạnh được tổ chức, chỉ huy chặt chẽ, thống nhất, có công sự vững chắc và vật cản phức tạp nhằm ngăn chặn những cuộc tiến công trực tiếp vào khu vực phòng ngự.

Với hình thức phòng ngự này, quân Pháp đã thắng quân Đức ở Vec-đoong trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918). Ở Đông Dương từ cuối năm 1950 trở đi, do sự phát triển lớn mạnh về mọi mặt của cách mạng Việt Nam, mà nhất là các đại đoàn chủ lực của ta đã được thành lập, bước đầu đã trang bị thêm vũ khí hiện đại từ nguồn viện trợ của các nước bạn và từ nguốn chiến lợi phẩm, nên các hình thức phòng ngự cứ điểm và cụm cứ điểm độc lập đều có thể đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt. Vì thế, quân Pháp phải sử dụng hình thức phòng ngự cao hơn - tập đoàn cứ điểm. Từ năm 1951, hình thức phòng ngự tập đoàn cứ điểm đã xuất hiện ở Hòa Bình, sau đó ở Nà Sản (1952) … Với quy mô nhỏ, công sự trận địa dã chiến. Nhưng đến Điện Biên Phủ hình thức phòng ngự này đã hoàn thiện. Tại đây, quân Pháp triển khai chiếm lĩnh tất cả các điểm cao của một thung lũng rộng lớn, khống chế và xây dựng thành một tập đoàn cứ điểm liên hoàn, gồm 49 cứ điểm nằm trong 8 cụm cứ điểm thuộc 3 phân khu: bắc, nam và trung tâm. Mỗi cụm cứ điểm đều có khả năng phòng ngự độc lập, có hệ thông quân sự vững chắc và hỏa lực mạnh như súng cối, súng phun lửa… Quanh các cứ điểm và cụm cứ điểm đều có giao thông hào và hàng rào thép gai được bố trí theo nhiều tầng, nhiều lớp. Ở hai phân khu nam và trung tâm có trận địa pháo. Ở Điện Biên Phủ địch xây dựng sân bay Mường Thanh và sân bay Hồng Cúm, có thể đáp ứng nhu cầu tiếp tế, chi viện bằng đường không.

Về lực lượng, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được gọi là binh đoàn tác chiến Tây Bắc gồm 12 tiểu đoàn bộ binh và lính dù, hai tiểu đoàn lựu pháo 105 ly (24 khẩu), hai tiểu đoàn súng cối 120 ly (20 khẩu), một đại đội trọng pháo 155 ly (4 khẩu), một đại đội xe tăng 18 tấn (10 chiếc) và một phi đội không quân gồm 17 chiếc (7 khu trục, 5 trinh sát, 4 vận tải, 1 trực thăng)[3].

Tướng H.Na-va, Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp lúc bấy giờ cùng các tướng lĩnh cấp cao của Pháp và Mỹ đều đánh giá cao tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, coi đó là “pháo đài bất khả xâm phạm” là “Nà Sản lũy thừa mười” không một sức mạnh nào có thể can thiệp được. Kế hoạch Na- va nói chung, tập đoàn cứ điểm Điện iên Phủ nói riêng, là cố gắng lớn nhất và cuối cùng của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ trong 9 năm gây chiến tranh ở Đông Dương.

Đối với ta Điện Biên Phủ, xét theo nhiều phương diện là chiến dịch lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng- Cơ quan chỉ đạo tối cao của cuộc kháng chiến Quyết định mở chiến dịch. Tổng quân ủy đã soạn thảo Kế hoạch tác chiến chính xác, khả thi. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy chiến dịch. Lực lượng tham gia chiến dịch cũng đông nhất, mạnh nhất trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Chỉ tính riêng khối bộ đội chủ lực, ta đã huy động 5 trong số 7 đại đoàn hiện có lúc bấy giờ. Đó là các đại đoàn 308, 312, 316, 304 (thiếu trung đoàn 66), tất cả gồm 11 trung đoàn bộ binh và một đại đoàn công - pháo. Tổng quân số chủ lực của ta lên tới khoảng 55 ngàn người. Ngoài ra còn có một bộ phận lực lượng bộ đội địa phương tỉnh, huyện và dân quân du kích thuộc Liên khu 3, Liên khu 4, Việt Bắc, Tây Bắc và 261.500 dân công khắp mọi nẻo, miền phục vụ chiến đấu.

Như vậy, Điện Biên Phủ là sự tập trung cố gắng lớn nhất của cả hai bên tham chiến. Chính vì thế, Điện Biên Phủ thất thủ là một thảm hại của thực dân Pháp, là một thắng lợi vĩ đại của quân và dân ta. Sau thất bại này, mặc dầu lực lượng quân Pháp trên toàn Đông Dương còn đông, nhưng ý chí xâm lược nước ta của thực dân Pháp đã hoàn toàn bị tiêu tan, buộc phải ngồi vào bàn đàm phán, ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt chiến tranh (21/7/1954), lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Trận Điện Biên Phủ thể hiện một cách xuất sắc nhất nghệ thuật chọn hướng (địa điểm) quyết chiến, tạo thế và nắm vững thời cơ đánh dịch.

Chọn hướng (địa điểm) quyết chiến, tạo thế và nắm thời cơ để tiến hành trận quyết chiến chiến lược là vấn đề cực kỳ quan trọng. Các trận Bạch Đằng (938), Như Nguyệt (1077), Đông Bộ Đầu, Chương Dương - Thăng Long (thế kỷ XIII) sở dĩ chúng ta thắng lợi lớn, một phần là do nghệ thuật chọn địa điểm quyết chiến, tạo thế và nắm thời cơ. Đó là những nơi ta có thể phát huy lối đánh sở trường của mình, hạn chế được thế mạnh của địch, là lúc địch bị bất ngờ nhất.

Trong Đông- Xuân 1953 - 1954, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Đảng ta xác định phương hướng chiến lược “tích cực chủ động, cơ động linh hoạt”, chủ trương sử dụng bộ phận chủ lực  mở chiến dịch tiến công những hướng địch sơ hở trên chiến trường rừng núi - mà hướng chính là Tây Bắc, đồng thời tranh thủ cơ hội diệt địch trên những hướng chúng có thể đánh sâu vào vùng tự do; đẩy mạnh chiến tranh du kích trên khắp các chiến trường sau lưng địch. Theo đó, chủ lực ta tiến lên Tây Bắc. Phát hiện thấy ta chuyển quân, địch vội vàng cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ đồng thời rút lực lượng về tăng cường cho Điện Biên Phủ, biến nơi đây thành tập đoàn cứ điểm. Ta vừa hình thành thế trận bao vây Điện Biên Phủ, vừa mở các đồn tiến công lớn ở Trung Lào, Hạ Lào, Thượng Lào, Đông Bắc Campuchia và Bắc Tây Nguyên, không chỉ để tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do, giành dân, mà chính là nhằm phân tán khối lực lượng cơ động của Pháp, cô lập địch ở Điện Bien Phủ, làm cho chúng không thể phán đoán được trận đánh lớn nhất của ta trong Đông - Xuân 1953 - 1954 sẽ diễn ra ở đâu. Đã có lúc Bộ Chỉ huy Pháp nghĩ rằng ta đã từ bỏ ý định tiến công Điện Biên Phủ.

Cùng với việc mở các đòn tiến công lớn, phân tán lực lượng cơ động của địch, cô lập chúng ở Điện Biên Phủ, làm cho các tướng Pháp không phán đoán được trận đánh lớn sẽ diễn ra ở đâu. Ta tập trung mọi nỗ lực chuẩn bị cho trận quyết chiến ở Điện Biên Phủ trở thành sự lựa chọn của ta, nơi đó, mặc dầu là tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của quân Pháp lúc bấy giờ, nhưng việc tiếp tế chỉ có thể thực hiện được bằng đường không; và như vậy Điện Biên Phủ hoàn toàn rơi vào thế bị cô lập; nơi đó ta phát huy được sức mạnh, sở trường của mình, đẩy quân Pháp vào thế bất lợi. Và như thế một trận quyết chiến chiến lược đã hình thành ngoài sự tính toán của viên tướng Tư lệnh quân viễn chinh.

Trong trận Điện Biên Phủ, ta không chỉ chọn hướng (địa điểm) chính xác, mà còn biết tạo thế, chọn thời cơ (thời gian) mở đầu và kết thúc đúng lúc. Trước ngày nổ súng mở màn chiến dịch (13/3), quân Pháp ở Điện Biên Phủ đã sa vào thế yếu, vì ta đã hình thành một thế trận bao vây, áp sát lòng chảo Điện Biên Phủ; lúc đó lực lượng của địch đã bị căng ra khắp toàn Đông Dương, khó bề hỗ trợ cho Điện Biên Phủ; mọi việc tiếp tế, liên lạc chỉ có thể thực hiện được bằng một con đường duy nhất- đó là đường không. Thế nhưng thời tiết tháng 3, tháng 4 ở Điện Biên Phủ lại rất không thuận lợi cho máy bay cất cánh, hạ cánh, thả dù tiếp tế; đó là thế mạnh của quân địch trở thành thế yếu.

Như vậy việc xác định địa điểm, tạo thế, chọn thời cơ tiến công là những yếu tố quan trọng, đưa đến thắng lợi của ta trong trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ.

Trận Điện Biên Phủ là trận tác chiến hợp đồng binh chủng cao nhất của tá trong kháng chiến chống Pháp

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, quân đội ta đã tổ chức và thực hành gần 100 chiến dịch các loại. Nhưng các chiến dịch trước Điện Biên Phủ thường có quy mô vừa và nhỏ. Điện Biên Phủ là chiến dịch lớn nhất, có ý nghĩa quyết định thắng lợi trong cuộc chiến tranh.

Ta đã điều động một lực lượng chủ lực lớn nhất; bên cạnh còn có bộ đội địa phương và dân công hỏa tuyến. Lực lượng đông là một lợi thế; và lợi thế đó càng được nhân lên khi ta biết tổ chức tác chiến hiệp đồng, phát huy ưu thế của từng lực lượng, từng loại hỏa lực, vũ khí. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ ta đã làm được điều đó. Lần đầu tiên Quân đội nhân dân Việt Nam tiến hành chiến dịch tiến công một tập đoàn cứ điểm - hình thức phòng ngự cao nhất lúc bấy giờ của quân Pháp ở Đông Dương; và trong điều kiện quân Pháp có vũ khí, trang bị hiện đại hơn, có ưu thế tuyệt đối về không quân, có nhiều kinh nghiệm trong tác chiến phòng ngự; thế nhưng bằng việc tập trung lực lượng, tác chiến hiệp đồng chặt chẽ, quân ta đã đột phá lần lượt từng cứ điểm, từng phân khu, đồng thời xây dựng hệ thống trận địa và giao thông hào, từng bước thắt chặt vòng vây, tạo nên ưu thế sức mạnh to lớn trong quá trình tiến công; và cuối cùng đã đập tan hoàn toàn cứ điểm quan trọng này.

Như vậy, sử dụng lực lượng lớn, tác chiến hiệp đồng chặt chẽ, ta đã tạo nên ưu thế lớn giành thắng lợi trọn vẹn cho trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ.

Có thể nói, Điện Biên Phủ là một trong những trận quyết chiến chiến lược lớn, tiêu biểu nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam; đó là sự kế thừa và phát triển truyền thống quân sự, nghệ thuật biết đánh và biết thắng, tinh thần quyết chiến và quyết thắng của dân tộc ta. Đồng thời, Điện Biên Phủ đã tạo ra cơ sở vững chắc cả về vật chất và tinh thần để quân dân ta tiến lên giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đưa đến chiến dịch Hồ Chí Minh vĩ đại mùa Xuân năm 1975.

Chiến công kỳ diệu này mãi mãi đi vào lịch sử; ý nghĩa to lớn của nó đến nay vẫn còn nguyên giá trị và phát huy ảnh hưởng trong hiện tại và mai sau. Với tinh thần Điện Biên Phủ chắc chắn nhân dân ta sẽ lập nên những kỳ tích mới trong kỷ nguyên mới.

Hồng Vui 

 


[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.9, Nxb Sự thật, H. 1989, tr.174.

[2] Võ Nguyên Giáp, 35 năm sau suy nghĩ về Điện Biên Phủ, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, 4.1999, tr.8.

[3] Bộ Tổng tham mưu, Ban Tổng kết- Biên soạn lịch sử, Lịch sử Bộ Tham mưu trong kháng chiến chống Pháp (1945- 1954), 1991.

Tin cùng chuyên mục

Đồng chí Nguyễn Phong Sắc và dấu ấn Ngày Quốc tế lao động 1/5/1930 tại Nghệ Tĩnh

Đồng chí Nguyễn Phong Sắc và dấu ấn Ngày Quốc tế lao động 1/5/1930 tại Nghệ Tĩnh


Giỗ Tổ Hùng Vương trong tâm thức và văn hoá người Việt - từ cội nguồn dân tộc đến trách nhiệm bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống trong thời đại mới

Giỗ Tổ Hùng Vương trong tâm thức và văn hoá người Việt - từ cội nguồn dân tộc đến trách nhiệm bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống trong thời đại mới


Phát huy vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc

Phát huy vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc


Đồng chí Hà Huy Tập – Tấm gương sáng của cách mạng Việt Nam

Đồng chí Hà Huy Tập – Tấm gương sáng của cách mạng Việt Nam


Nghệ An trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Vai trò chiến lược, giá trị lịch sử và bài học thực tiễn

Nghệ An trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Vai trò chiến lược, giá trị lịch sử và bài học thực tiễn


Khi cán bộ đồng lòng, nghị quyết sớm đi vào cuộc sống tại xã Quỳnh Sơn

Khi cán bộ đồng lòng, nghị quyết sớm đi vào cuộc sống tại xã Quỳnh Sơn


Nghệ An - nhiều điểm sáng sau 8 năm thực hiện cải cách chính sách bảo hiểm xã hội

Nghệ An - nhiều điểm sáng sau 8 năm thực hiện cải cách chính sách bảo hiểm xã hội


Tình hình kinh tế - xã hội quý 1, nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm quý 2 năm 2026

Tình hình kinh tế - xã hội quý 1, nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm quý 2 năm 2026


Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lớn mạnh và trưởng thành cùng sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lớn mạnh và trưởng thành cùng sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc


Nâng cao hiệu quả công tác tuyên giáo và dân vận trong tình hình mới, góp phần xây dựng Đảng bộ vững mạnh ở xã Bắc Lý

Nâng cao hiệu quả công tác tuyên giáo và dân vận trong tình hình mới, góp phần xây dựng Đảng bộ vững mạnh ở xã Bắc Lý


Nâng cao hiệu quả chỉ đạo, định hướng và xử lý thông tin báo chí trong bối cảnh mới: Nhìn từ thực tiễn Nghệ An giai đoạn 2021–2025 và định hướng 2026–2030

Nâng cao hiệu quả chỉ đạo, định hướng và xử lý thông tin báo chí trong bối cảnh mới: Nhìn từ thực tiễn Nghệ An giai đoạn 2021–2025 và định hướng 2026–2030


Bác Hồ trở về Tổ quốc - Bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam

Bác Hồ trở về Tổ quốc - Bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam


Đồng chí Trần Quốc Hoàn - Nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu, kiên trung với Đảng, trọn đời vì nước, vì dân

Đồng chí Trần Quốc Hoàn - Nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu, kiên trung với Đảng, trọn đời vì nước, vì dân


Nghệ An - Đầu tư cho công tác dân số là đầu tư cho phát triển bền vững

Nghệ An - Đầu tư cho công tác dân số là đầu tư cho phát triển bền vững


Phát huy kết quả công tác tuyên giáo – dân vận năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026

Phát huy kết quả công tác tuyên giáo – dân vận năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026