Banner Ban tổ chức tỉnh ủy sub-site-1

Kết luận của Bộ Chính trị về độ tuổi tái cử chính quyền và trình độ chuyên môn, lý luận chính trị đối với nhân sự tham gia cấp ủy các cấp nhiệm kỳ 2020-2025

Bộ Chính trị vừa ban hành Kết luận số 60-KL/TW quy định về độ tuổi tái cử chính quyền và trình độ chuyên môn, lý luận chính trị đối với nhân sự tham gia cấp uỷ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025.

Bộ Chính trị vừa ban hành Kết luận số 60-KL/TW quy định về độ tuổi tái cử chính quyền và trình độ chuyên môn, lý luận chính trị đối với nhân sự tham gia cấp uỷ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025. Theo đó, Bộ Chính trị kết luận:

Xác định độ tuổi và thời điểm tính độ tuổi

Việc xác định độ tuổi và thời điểm tính độ tuổi tái cử chính quyền các cấp, Bộ Chính trị  giao cho Ban Tổ chức Trung ương căn cứ Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng để hướng dẫn thực hiện, bảo đảm sự đồng bộ trong hệ thống chính trị.

Theo Chỉ thị số 35-CT/TW, thời điểm tính độ tuổi tham gia cấp ủy, chính quyền, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội được quy định: Cấp cơ sở tháng 4/2020; cấp huyện và tương đương tháng 6/2020; cấp trực thuộc Trung ương tháng 9/2020.

Thời điểm tính tuổi tham gia chức danh lãnh đạo hội đồng nhân dân, UBND, đoàn đại biểu Quốc hội là tháng 5/2021. Thời điểm tính tuổi tham gia các chức danh lãnh đạo mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội là thời điểm đại hội ở các cấp của mỗi tổ chức.

Việc bổ sung cấp ủy viên và ủy viên ban thường vụ cấp ủy nhiệm kỳ 2015 - 2020, theo chỉ thị 35, phải dừng trước 6 tháng tính đến thời điểm đại hội ở mỗi cấp. Trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Chỉ thị số 35-CT/TW nêu rõ: Những người lần đầu tham gia cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội nói chung phải đủ tuổi công tác từ 2 nhiệm kỳ trở lên, ít nhất cũng trọn 1 nhiệm kỳ.

Nhân sự được giới thiệu tái cử cấp ủy, chính quyền, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội nói chung phải đủ tuổi công tác trọn 1 nhiệm kỳ, ít nhất phải còn đủ tuổi công tác từ 1/2 nhiệm kỳ (30 tháng) trở lên tại thời điểm tính độ tuổi tham gia cấp ủy ở mỗi cấp và chính quyền, mặt trận tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội tại thời điểm bầu cử. Cụ thể, với những nhân sự lần đầu tham gia cấp ủy ở cấp tỉnh, ít nhất nam sinh từ tháng 9/1965 và nữ sinh từ tháng 9/1970 trở lại đây (trừ các trường hợp được kéo dài thời gian công tác); ở cấp huyện, ít nhất nam sinh từ tháng 6/1965, nữ sinh từ tháng 6/1970 trở lại đây; riêng đối với các đồng chí là cán bộ, công chức cấp xã (theo Nghị định Chính phủ quy định, không tính người hoạt động không chuyên trách, cán bộ nghỉ hưu, nghỉ chế độ): Ít nhất nam sinh từ tháng 4/1965, nữ sinh từ tháng 4/1970 trở lại đây.

Đối với nhân sự được giới thiệu tái cử cấp ủy, Hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương quy định: Ở cấp tỉnh áp dụng với nam sinh từ tháng 3/1963, nữ sinh từ tháng 3/1968 trở lại đây (trừ các trường hợp được kéo dài thời gian công tác); đối với cấp huyện, nam sinh từ tháng 12/1962 và nữ sinh từ tháng 12/1967 trở lại đây. Riêng các đồng chí có dự kiến giới thiệu ứng cử các chức danh lãnh đạo Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân nhiệm kỳ 2021-2026 từ cấp xã đến cấp tỉnh: Nam sinh từ tháng 11/1963 và nữ sinh từ tháng 11/1968 trở lại đây (trừ các trường hợp được kéo dài thời gian công tác). Trường hợp là Ủy viên Trung ương Đảng sẽ do Bộ Chính trị nghiên cứu, xem xét trình Ban Chấp hành Trung ương quyết định.

Với lực lượng vũ trang, độ tuổi tham gia cấp ủy căn cứ vào độ tuổi nghỉ hưu quy định tại Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam và Luật Sĩ quan Công an nhân dân Việt Nam. Các nhân sự tham gia cấp ủy địa phương thực hiện theo quy định chung về độ tuổi tham gia cấp ủy các cấp theo chỉ thị của Bộ Chính trị. Các nhân sự tham gia cấp ủy trong đảng bộ Quân đội, Công an, tuổi tái cử phải đủ tuổi công tác ít nhất 1/2 nhiệm kỳ (30 tháng đối với nhiệm kỳ 5 năm). Trường hợp đặc biệt còn tuổi công tác từ 1 năm (12 tháng) đến dưới 30 tháng phải là các những người có năng lực, đủ sức khoẻ để thực hiện nhiệm vụ, uy tín cao, hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên và phải được cấp có thẩm quyền bổ nhiệm cán bộ xem xét, quyết định.Theo tinh thần này, Ban Chấp hành Trung ương giao Quân ủy Trung ương và Đảng ủy Công an Trung ương hướng dẫn cụ thể về độ tuổi cấp ủy viên ở các đảng bộ trực thuộc.

Với các nhân sự bí thư đảng ủy là chủ tịch Hội đồng thành viên (hội đồng quản trị) hoặc tổng giám đốc và phó bí thư chuyên trách công tác đảng ở các tập đoàn, tổng công ty và các ngân hàng thương mại nhà nước (hoặc nhà nước có cổ phần chi phối) chỉ cần còn tuổi công tác từ 1 năm (12 tháng) trở lên. Các trường hợp này nếu có đủ phẩm chất, năng lực, sức khoẻ, tín nhiệm, hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên và được cấp có thẩm quyền bổ nhiệm đồng ý thì có thể xem xét tiếp tục tham gia cấp ủy trong doanh nghiệp nhiệm kỳ 2020 - 2025 đến khi đủ tuổi nghỉ hưu.

Các loại hình và hình thức đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân cấp có giá trị pháp lý như nhau.

Một nội dung quan trọng khác của Kết luận là việc xem xét trình độ chuyên môn, lý luận chính trị của nhân sự quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử và giới thiệu tham gia cấp ủy các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025 thực hiện theo chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14/6/2019 của Quốc hội, cụ thể là có trình độ chuyên môn, lý luận chính trị đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao và theo quy định của Đảng và Nhà nước. Văn bằng chứng chỉ do cơ sở giáo dục thuộc các loại hình và hình thức đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân cấp có giá trị pháp lý như nhau.

Các nội dung trên đã được Ban Thường vụ Tỉnh ủy cụ thể hóa tại Thông tri số 13-TT/TU, ngày 28/10/2109 về đại hội Đảng các cấp và Ban Tổ chức Tỉnh ủy sẽ có hướng dẫn cụ thể về công tác nhân sự cấp uỷ tại đại hội đảng bộ cấp trên cơ sở và cấp cơ sở, nhiệm kỳ 2020 - 2025.

Dương Phúc Sáu

Trưởng phòng Tổ chức cán bộ

Ban Tổ chức Tỉnh ủy

Tin cùng chuyên mục

Bộ Chính trị ban hành Quy định kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền

Bộ Chính trị ban hành Quy định kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền