Công tác phát triển đảng viên, nâng cao chất lượng đảng viên nói chung và đảng viên DTTS nói riêng luôn được các cấp uỷ quan tâm thực hiện. Tỉnh ủy Nghệ An đã ban hành nhiều văn bản về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới, qua đó các cấp ủy đảng quan tâm rà soát, tạo nguồn quần chúng, bồi dưỡng kết nạp đảng viên là người DTTS.
Hằng năm, cấp ủy đảng các cấp tiến hành khảo sát nguồn kết nạp Đảng và ban hành quyết định giao chỉ tiêu kết nạp đảng cho các đảng bộ trực thuộc. Cấp ủy đảng các cấp ban hành quyết định, kế hoạch giao chỉ tiêu kết nạp đảng viên mới đối với các tổ chức đảng trực thuộc; quan tâm bồi dưỡng, tạo nguồn phát triển đảng viên, chỉ đạo trung tâm chính trị phối hợp với các cơ quan tham mưu giúp việc cấp uỷ xây dựng kế hoạch mở lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng cho quần chúng ưu tú. Chỉ tính từ năm 2022 đến nay, cấp ủy đảng các cấp đã tổ chức được 517 lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng cho 48.330 quần chúng tham gia, trong đó số lượng quần chúng tham gia là người DTTS là 5.477 người (chiếm 11,33%); kết nạp được 21.831 đảng viên mới, trong đó có 3.654 đảng viên DTTS chiếm 16,56%. Bên cạnh đó, Tỉnh ủy luôn chú trọng đến công tác bồi dưỡng lý luận chính trị cho đảng viên mới hàng năm; đã tổ chức được 229 lớp bồi dưỡng lý luận chính trị cho 21.831 đảng viên mới tham gia trong đó số lượng đảng viên mới là người DTTS tham gia là 3.654 người (đạt tỷ lệ 100%).
Toàn tỉnh hiện có 27.302 đảng viên là người DTTS, chiếm 13,4% so với tổng số đảng viên toàn tỉnh, trong đó chủ yếu là dân tộc Thái (chiếm 76,88%), dân tộc Thổ (chiếm 8,85%), dân tộc Khơ Mú (chiếm 7,37%), dân tộc Mông (chiếm 6,04%) so với tổng số đảng viên là người DTTS), các dân tộc còn lại có số lượng ít. Đảng viên người DTTS phần lớn tập trung tại các xã thuộc huyện cũ (Quế Phong, Quỳ Châu, Kỳ Sơn, Tương Dương, Quỳ Hợp, Con Cuông, Nghĩa Đàn, Anh Sơn,…).
Từ năm 2022 đến nay, toàn tỉnh đã kết nạp được 21.831 đảng viên mới, trong đó có 3.654 đảng viên DTTS chiếm 16,56% so với tổng số đảng viên mới. Số đảng viên mới kết nạp chủ yếu là người dân tộc Thái, Thổ, Khơ Mú, Mông... Trong đó, 19.066 đồng chí có trình độ THPT (chiếm tỷ lệ 69,83%), 7.412 đồng chí có trình độ Đại học (chiếm 27,15%) và 216 đồng chí có trình độ trên Đại học, 3.720 đồng chí có trình độ Trung cấp (chiếm 13,63%) và 242 đồng chí có trình độ Cao cấp, cử nhân (chiếm 0,89%) so với tổng số đảng viên là người DTTS.
Công tác nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong vùng DTTS luôn được chú trọng quan tâm thực hiện. Công tác giáo dục nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống; định hướng tư tưởng cho đảng viên, quản lý hoạt động của đảng viên thông qua quản lý sinh hoạt đảng; việc phân công nhiệm vụ cho đảng viên được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, bố trí và kiện toàn đội ngũ cán bộ, đảng viên người DTTS vào các vị trí lãnh đạo, quản lý được thực hiện quyết liệt, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển tiếp sắp xếp lại các đơn vị hành chính. Cấp xã: Tỷ lệ cán bộ người DTTS tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ có 779 đồng chí (chiếm 23,82%); tham gia Ban Thường vụ có 265 đồng chí (chiếm 19,92%); 48 đồng chí là Phó Bí thư (chiếm 20,96%); 26 đồng chí là Bí thư (chiếm 0,19%). Cấp tỉnh: Tỷ lệ cán bộ người DTTS tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ có 2 đồng chí (chiếm 3,0%); tham gia Ban Thường vụ có 1 đồng chí (chiếm 5,9%); 1 đồng chí Phó Bí thư Tỉnh ủy (chiếm 33,3%).
Về xếp loại chất lượng của đảng viên là người DTTS: năm 2025, 10,33% đảng viên được xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; 78,67% đảng viên được xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ; 6,24% đảng viên được xếp loại hoàn thành nhiệm vụ; 0,08% đảng viên được xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ, số ít đảng viên được miễn sinh hoạt đảng và đảng viên chưa đủ điều kiện không xếp loại.
Xây dựng đồng bộ các nhóm giải pháp
Xác định công tác phát triển đảng viên là nhiệm vụ trọng tâm, để thực hiện tốt công tác này nói chung và phát triển đảng viên là người DTTS nói riêng, Tỉnh ủy Nghệ An xác định một số nhiệm vụ, giải pháp sau:
Đổi mới phương thức tuyên truyền, giáo dục góp phần nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị của các tầng lớp nhân dân, nhất là cán bộ, đoàn viên, thanh niên, hội viên. Chú trọng đối thoại với Nhân dân, tập trung giải quyết những vấn đề mà Nhân dân phản ánh, kiến nghị, chăm lo đời sống và bảo đảm an sinh xã hội vùng đồng bào DTTS. Sử dụng người có uy tín, già làng, trưởng bản là đảng viên để “nói cho dân hiểu, làm cho dân tin”, từ đó khơi dậy khát vọng cống hiến, muốn đứng vào hàng ngũ của Đảng trong quần chúng. Tập trung xây dựng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy cơ sở, chủ động giải quyết dứt điểm các vụ việc phát sinh ngay tại thôn, bản theo đúng thẩm quyền. Đảm bảo tổ chức đảng giữ vững vai trò hạt nhân chính trị, lãnh đạo toàn diện các hoạt động của hệ thống chính trị tại cơ sở và thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với đồng bào các dân tộc.
Chú trọng bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, kỹ năng và nghiệp vụ công tác đảng phù hợp với đặc thù tâm lý, văn hóa vùng đồng bào DTTS. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng dân vận, kỹ năng nắm bắt, định hướng dư luận xã hội cho đội ngũ cấp ủy viên, bí thư chi bộ thôn, bản. Phát huy vai trò nêu gương của người đứng đầu; nâng cao tinh thần trách nhiệm, tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ được giao.
Tiếp tục triển khai hiệu quả ứng dụng “Sổ tay đảng viên điện tử”; từng bước số hóa công tác quản lý đảng viên, hồ sơ, tài liệu của tổ chức đảng. Nâng cao nhận thức, kỹ năng số cho cán bộ, đảng viên; gắn việc thực hiện “Bình dân học vụ số” với nhiệm vụ xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở.
Thực hiện đồng bộ các giải pháp về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, đồng thời kết hợp tốt các giải pháp cả trước mắt và lâu dài tạo cơ hội cho sự phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số; giải pháp quan trọng là sự quan tâm đầu tư của Đảng, Nhà nước trong việc phát triển ngành, nghề ở miền núi như: tập trung đào tạo nghề, phát triển các nghề dịch vụ, tạo việc làm cho lao động; quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, giúp đồng bào phát triển kinh tế, văn hoá; đầu tư khai thác những lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên. Từ đó, nâng cao đời sống vật chất, trình độ văn hóa cho đồng bào, đây là điều kiện thuận lợi để có nguồn xem xét, bồi dưỡng, kết nạp đảng viên; có chế độ đãi ngộ, ưu tiên cho cán bộ, đảng viên vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc để người dân tin và phấn đấu vào Đảng.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội phát động các phong trào thi đua yêu nước, lao động sản xuất qua thực tiễn ở cơ sở để phát hiện, giới thiệu đoàn viên, thanh niên, hội viên, quần chúng ưu tú cho Đảng, đặc biệt quan tâm các nhân tố tích cực, nhất là người có uy tín, già làng, trưởng bản. Quan tâm bồi dưỡng kết nạp những học sinh, sinh viên người dân tộc đang theo học tại các trường nội trú, trường cao đẳng, đại học trên địa bàn và các địa phương để làm nòng cốt cho chi bộ và công tác phát triển đảng về sau.
Định kỳ hằng quý tiến hành rà soát, kiểm tra và đôn đốc tiến độ thực hiện chỉ tiêu kết nạp đảng viên đã giao cho các đơn vị trực thuộc, đảm bảo tính kế hoạch và tính bền vững trong công tác phát triển đảng viên. Kịp thời tổ chức biểu dương, khen thưởng các tổ chức đảng có cách làm sáng tạo, hiệu quả; đồng thời nghiêm túc phê bình các tổ chức đảng thực hiện thiếu quyết liệt, để xảy ra sai sót hoặc không hoàn thành kế hoạch phát triển đảng viên mà không có lý do chính đáng.
Nguyễn Quỳnh, Ban Tổ chức Tỉnh ủy