Kỷ niệm 85 năm ngày Bác Hồ về nước (28/1/1941 – 28/1/2026)
Mùa Xuân năm 1941 đã đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một mốc son chói lọi, đánh dấu sự kiện lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước. Sự kiện này không chỉ thay đổi vận mệnh của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mà còn đặt nền móng vững chắc cho những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX và tương lai.
Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước tại làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An, nay là xã Kim Liên, tỉnh Nghệ An. Chứng kiến cảnh nước mất, nhà tan, ngày 05/6/1911, Nguyễn Tất Thành rời bến cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước. Trải qua nhiều năm sống và hoạt động ở nước ngoài, Người đến được với chủ nghĩa Mác- Lênin và lựa chọn con đường cách mạng vô sản để giải phóng dân tộc.
Hành trình 30 năm và quyết định đúng đắn
Những năm bôn ba ở nước ngoài, trải qua nhiều công việc, hoạt động trong phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc ở nhiều châu lục nhưng Nguyễn Ái Quốc luôn theo dõi sát tình hình trong nước, tập trung truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Người cũng tích cực chuẩn bị các điều kiện về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời một chính đảng cách mạng. Từ ngày 03 đến ngày 07/02/1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc), đồng chí Nguyễn Ái Quốc chủ trì hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, tạo bước ngoặt lịch sử đầu tiên của cách mạng Việt Nam - chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về đường lối chính trị và về tổ chức của các phong trào yêu nước Việt Nam. Sự ra đời của Đảng khẳng định tầm nhìn, vai trò, bản lĩnh, trí tuệ và uy tín của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam; là cống hiến to lớn và đầy sáng tạo của Người trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam. Sau dấu mốc ấy, dù tiếp tục hoạt động trong điều kiện vô cùng gian nan, Người vẫn một lòng hướng về Tổ quốc, đau đáu tìm thời cơ trở về nước để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước.
Đầu năm 1940, tình hình thế giới có nhiều chuyển biến mau chóng. Ngày 15/6/1940, phát xít Đức tấn công nước Pháp. Một ngày sau, quân Đức tiến vào thủ đô Pari bỏ ngõ. Ngày 22/6/1940, Chính phủ Pêtanh chấp nhận mọi điều kiện đầu hàng phát xít Đức. Người nhận định “Đây là thời cơ thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước để tranh thủ nắm thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”[1].
Ngày 28/01/1941 (mồng 2 Tết Tân Tỵ), Nguyễn Ái Quốc vượt qua cột mốc 108 (nay là cột mốc 675) biên giới Việt Nam - Trung Quốc về đến Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng (nay là xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng) - nơi có địa thế hiểm trở, núi non hùng vĩ. Đồng bào Pác Bó - Nhân dân các dân tộc Cao Bằng vinh dự, tự hào thay mặt nhân dân cả nước đón lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sau 30 năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Nguyễn Ái Quốc về nước và chọn Cao Bằng làm nơi đặt cơ quan chỉ đạo phong trào cách mạng và tiếp tục tạo ra những nhân tố quan trọng, cần thiết để đưa cách mạng đến thành công. Đây là một sự tính toán kỹ lưỡng của Người liên quan tới triển vọng của phong trào cách mạng cả nước. Với tầm nhìn chiến lược của một vị lãnh tụ thiên tài, Người đã phát hiện Cao Bằng là vùng đất hội tụ đủ cả “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để xây dựng căn cứ địa cách mạng của cả nước. Người nhấn mạnh, căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc với quốc tế rất thuận lợi”. Từ ngày 08/02/1941, Nguyễn Ái Quốc với bí danh Già Thu, đến ở hang Cốc Bó, thôn Pác Bó (tiếng Nùng có nghĩa là hang Ðầu nguồn) để sống và làm việc. Phía dưới, cách cửa hang chừng 50 mét có con suối nước rất trong được Người đặt tên là “Suối Lê-nin”. Một ngọn núi cao bên bờ suối được Người đặt tên là “Núi Các Mác”. Những cái tên thể hiện tư tưởng, mục tiêu, đường lối và niềm tin của Người vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam theo con đường của chủ nghĩa Mác - Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.
Với nhận định đánh giá và sự lựa chọn thiên tài của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Pác Bó - Hà Quảng - Cao Bằng đã trở thành “đại bản doanh” của căn cứ Việt Bắc, trở thành “cội nguồn”, “chiếc nôi của cách mạng Việt Nam”. Những tư tưởng chỉ đạo cách mạng của Người được đưa vào thực tế một cách nhanh chóng và linh hoạt, từng bước đưa cách mạng cả nước tới thắng lợi mà đỉnh cao là thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Trực tiếp lãnh đạo cách mạng
Với danh nghĩa đại diện Quốc tế Cộng sản, từ ngày 10 - 19/5/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tại lán Khuổi Nặm (Pác Bó, Hà Quảng). Tham dự hội nghị có các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng Chí Kiên, Vũ Anh, Bùi San, Hồ Xuân Lưu… Xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết của cách mạng Đông Dương, hội nghị đã đưa ra những quyết sách quan trọng, trước hết là chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng, tập trung giải quyết một cách đúng đắn, khoa học nhất mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp. Hội nghị quyết định xúc tiến công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, coi đó là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân trong giai đoạn hiện tại; đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng, làm cho Đảng đủ năng lực lãnh đạo công cuộc chuẩn bị và tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Cũng tại Pác Bó - Cao Bằng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc liên tiếp mở lớp huấn luyện về tổ chức, vận động, chuẩn bị thành lập Mặt trận Việt Minh nhằm tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân vào hàng ngũ các đoàn thể cứu quốc. Và chính Người đã chỉ đạo soạn thảo các văn kiện của Việt Minh như Tuyên ngôn, Chương trình, Ðiều lệ. Bản Chương trình cứu nước của Việt Minh gồm có 44 điều cụ thể về các chính sách chính trị, kinh tế, văn hóa giáo dục, chính sách đối với các tầng lớp nhân dân, chính sách xã hội, chính sách ngoại giao. Đồng thời kiểm nghiệm, bổ sung, hoàn thiện về chính cương, điều lệ, phương pháp tổ chức của Mặt trận Việt Minh trước khi mở rộng việc xây dựng ra cả nước. Các chương trình vừa ích nước, vừa lợi dân như vậy đã được nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng. Mặt trận Việt Minh đã lôi cuốn, tập hợp sức mạnh quần chúng cả nước để đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Dưới sự chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, công tác thí điểm Mặt trận Việt Minh được nhanh chóng triển khai ở ba châu: Hà Quảng, Hòa An, Nguyên Bình. Chỉ trong vòng 3 tháng, từ tháng 2 - 4/1941, phong trào Việt Minh đã thu hút tới 2.000 người thuộc đủ các thành phần dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Dao, Mông...; đủ các lứa tuổi, đủ các giới tham gia các đoàn thể: Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Phụ lão cứu quốc, Nhi đồng cứu quốc... Trước sự lớn mạnh của các đoàn thể cứu quốc ở ba châu thí điểm, theo chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, tháng 4/1941, Hội nghị cán bộ Cao Bằng tổ chức rút kinh nghiệm về tổ chức Mặt trận Việt Minh. Trên cơ sở của những kinh nghiệm này, ngày 19/5/1941, theo sáng kiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh, lấy cờ đỏ sao vàng năm cánh làm cờ của Việt Minh và sẽ làm cờ Tổ quốc khi thành lập nước.
Cùng với việc xây dựng Mặt trận, Người đặc biệt chú trọng vận động quần chúng và khẩn trương thiết lập các “con đường quần chúng” từ Cao Bằng về miền xuôi; mở rộng phong trào “Nam tiến” để tạo sự kết nối từ Cao Bằng sang các hướng Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hà Giang; nối liền các căn cứ, phát triển phong trào cách mạng ở Việt Bắc gắn với phong trào cả nước, tạo tiền đề cho việc ra đời khu giải phóng sau này.
Song song với xây dựng cơ sở quần chúng, Người trực tiếp chỉ đạo mở các lớp huấn luyện phù hợp từng đối tượng cán bộ, nhất là thanh niên; nội dung thiết thực, đi từ dễ đến khó, từ trước mắt đến lâu dài, kết hợp bồi dưỡng lý luận với rèn luyện thực tiễn và nhấn mạnh vấn đề đaọ đức cách mạng. Ngoài tờ báo Việt Nam độc lập do Người trực tiếp phụ trách được xuất bản, Người còn biên soạn nhiều sách, phần nhiều theo thể văn vần như: “Con đường giải phóng”, “Mười điều Việt Minh”, “Lịch sử nước ta”; “Địa dư Cao Bằng”, “Việt Minh ngũ tự kinh” để hướng dẫn phong trào.
Giữa năm 1944, tình hình thế giới có nhiều chuyển biến nhanh chóng, có lợi cho cách mạng Việt Nam. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tập trung chỉ đạo việc tổ chức xây dựng căn cứ địa cách mạng làm nơi đứng chân để xây dựng lực lượng, tích lũy lương thực, súng đạn, chuẩn bị tiền đề vật chất cho tổng khởi nghĩa cách mạng giành chính quyền. Dưới sự trực tiếp chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ tháng 6 đến tháng 8/1941, Ðảng bộ Cao Bằng đã cử 70 cán bộ đi học quân sự ở nước ngoài. Ðây là những hạt giống quân sự đầu tiên của căn cứ địa Cao Bằng, sau này là Cao - Bắc - Lạng và khu giải phóng trong tổng khởi nghĩa Cách mạng Cao - Bắc - Lạng. Bắt đầu từ căn cứ địa cách mạng Bắc Sơn, Võ Nhai, chỉ sau một thời gian ngắn đã phát triển thành cả một vùng rộng lớn bao gồm sáu tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang.
Tháng 8/1944, Trung ương Đảng kêu gọi nhân dân “Cầm vũ khí, đuổi thù chung”. Không khí khởi nghĩa sôi sục khắp nơi, nhân dân vùng Cao - Bắc - Lạng sẵn sàng hưởng ứng khởi nghĩa. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, ở thời điểm này, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Bây giờ thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển đã qua nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới... Cuộc đấu tranh bây giờ phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự. Song hiện nay, chính trị còn trọng hơn quân sự. Phải tìm ra một hình thức thích hợp thì mới có thể đẩy phong trào tiến lên”. “Hình thức thích hợp” lúc bấy giờ, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là thành lập đội quân giải phóng - đội quân chủ lực đầu tiên - Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Trong chỉ thị thành lập Đội, Người khẳng định: “Tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là chính trị trọng hơn quân sự... Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác... Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước chúng ta…”.
Theo lời Bác dặn, ngày 22/12/1944, Ðội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân - tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam ngày nay - ra đời, tạo ra một cục diện mới trên mặt trận đấu tranh vũ trang cách mạng. Chỉ thị thành lập Ðội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân của Chủ tịch Hồ Chí Minh tuy ngắn gọn nhưng rất súc tích bao gồm các vấn đề chủ yếu về đường lối quân sự của Ðảng ta: vấn đề kháng chiến toàn dân, động viên và vũ trang toàn dân, nguyên tắc xây dựng lực lượng võ trang cách mạng, phương châm xây dựng ba thứ quân, phương thức hoạt động kết hợp quân sự với chính trị của lực lượng võ trang, nguyên tắc tác chiến và chiến thuật du kích của lực lượng võ trang.
Từ mùa xuân năm 1941, sau 30 năm hoạt động ở ngước ngoài, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đây là một sự kiện lịch sử quan trọng, kết thúc chặng đường dài sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, hoạt động sôi nổi, đầy khó khăn, hiểm nguy của Người ở nước ngoài, đồng thời mở ra thời kỳ phát triển mới của cách mạng Việt Nam, thời kỳ chuẩn bị về mọi mặt, tiến tới phát động cao trào Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Ý nghĩa lịch sử
Sự kiện Bác Hồ về nước năm 1941 mở ra giai đoạn phát triển mới của cách mạng Việt Nam: giai đoạn chuẩn bị về mọi mặt tiến tới Tổng khởi nghĩa và thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Việc Người trở về và trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng đã quy tụ lực lượng toàn Đảng, toàn dân vào mục tiêu cao nhất là giành độc lập dân tộc; củng cố hệ thống tổ chức Đảng từ Trung ương đến cơ sở; tranh thủ được sự ủng hộ của lực lượng Đồng minh chống phát xít trên trường quốc tế. Cũng từ Cao Bằng, cách mạng Việt Nam đã liên lạc với lực lượng Ðồng minh, được phe Ðồng minh ủng hộ. Ðó là cơ sở thực tế và pháp lý quốc tế quan trọng để đến khi Cách mạng Tháng Tám thành công, trong Tuyên ngôn Ðộc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định và tuyên bố trước toàn thế giới: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Ðồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công và tiếp tục mở đường đi tới những thắng lợi huy hoàng cho cách mạng Việt Nam. Từ mùa Xuân ấy, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta do Bác Hồ trực tiếp lãnh đạo đã chuyển sang một thời kỳ mới - thời kỳ nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu. Ðể rồi đến mùa Xuân 1975 hoàn thành sự nghiệp giải phóng đất nước, thống nhất Tổ quốc và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Sự kiện này thể hiện tầm nhìn chiến lược và để lại bài học lớn cho cách mạng Việt Nam về: xây dựng căn cứ địa, tập hợp lực lượng; dự báo thời cơ; xây dựng thế trận lòng dân tuyệt đối trung thành với Đảng và cách mạng; tập hợp, xây dựng lực lượng cách mạng trong một mặt trận thống nhất rộng rãi và đặc biệt là công tác xây dựng Đảng. Những bài học này vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay và mai sau. Những thành tựu đạt được càng khẳng định tính đúng đắn trong các quyết sách của Ðảng và Nhà nước ta theo con đường mà Bác Hồ đã chọn, hợp lòng dân, hòa được cùng xu thế của thời đại.
Giờ đây, trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới, đẩy mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc nghiên cứu, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh càng có ý nghĩa thời sự sâu sắc. Những bài học từ sự kiện Bác Hồ về nước - về độc lập, tự chủ, về lấy dân làm gốc, về gắn lý luận với thực tiễn - đến nay vẫn giữ nguyên giá trị đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Hồng Vui, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy
[1] Vũ Anh, Những ngày gần Bác, in trong: Bác Hồ về nước, Hội Văn học Nghệ thuật Cao Bằng, 1986, tr. 15.