Banner Tỉnh ủy Nghệ An (Home-latest-1)

Một số kết quả sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TU, ngày 13/3/2012 về phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2011-2020

Sau khi Nghị quyết số 08 -NQ/TU ban hành cấp ủy, chính quyền các cấp tập trung chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến quán triệt Nghị quyết bằng nhiều hình thức, nội dung phong phú, thiết thực.

Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân. Nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, đây là nguồn lực quý báu của một quốc gia nói chung và một tỉnh nói riêng. Nhận thức được tầm quan trọng đó, ngày 13/3/2012 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An đã ban hành Nghị quyết số 08 -NQ/TU về phát triển và nâng cao nguồn nhân lực giai đoạn 2011-2020 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 08 -NQ/TU), qua 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết, Nghệ An đã đạt được những kết quả quan trọng.

Sau khi Nghị quyết số 08 -NQ/TU ban hành cấp ủy, chính quyền các cấp tập trung chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến quán triệt Nghị quyết bằng nhiều hình thức, nội dung phong phú, thiết thực. Đồng thời chỉ đạo các ban, sở, ngành, tổ chức chính trị - xã hội; các cơ quan thông tấn, báo chí đã làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền về phát triển nguồn nhân lực trên các phương tiện thông tin đại chúng một cách kịp thời, hiệu quả.

Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngày một đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội; công tác quy hoạch và đào tạo thường xuyên đổi mới; cán bộ cơ sở, cán bộ trẻ và nhất là cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số được quan tâm. Số lượng giáo viên giỏi, giáo viên có tay nghề, kỹ thuật cao ngày một phát triển; đội ngũ công nhân có trình độ kỹ thuật được khẳng định; số học sinh, sinh viên giỏi cấp quốc gia, quốc tế đứng tốp đầu của cả nước. Công tác đầu tư, nâng cấp, mở rộng hệ thống giáo dục đào tạo và giáo dục dạy nghề trên địa bàn tỉnh được chú trọng, từng bước đảm bảo nhu cầu học tập của người dân và phù hợp với điều kiện phát triển giáo dục dạy nghề trên địa bàn từng địa phương, đơn vị. Năng lực, chất lượng các cơ sở đào tạo lao động kỹ thuật được tăng cường; chất lượng, hiệu quả của công tác đào tạo lao động kỹ thuật chuyển biến rõ nét hơn.

Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn ngày càng được chú trọng, phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề, công tác tuyển sinh, đào tạo và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn được quan tâm. Số lượng lao động nông thôn được đào tạo nghề ngày càng đông, chất lượng ngày càng được cải thiện, tỷ lệ tốt nghiệp hàng năm tương đối cao đáp ứng cho công cuộc xây dựng Nông thôn mới ở địa phương. Công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát được quan tâm triển khai, thực hiện

Tuy nhiên, phát triển nguồn nhân lực là một vấn đề rất rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực (Nghị quyết số 08 -NQ/TU đã xác định 6 đề án) nên quá trình triển khai thực hiện còn một số tồn tại, hạn chế, đó là: Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đôn đốc việc thực hiện Nghị quyết tại một số cơ quan, đơn vị, chính quyền địa phương chưa thường xuyên, thiếu quyết liệt, việc triển khai xây dựng và thực hiện các đề án của Nghị quyết thiếu tính đồng bộ, nên kết quả thực hiện các đề án đạt được chưa rõ nét.

Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết chưa thường xuyên, chưa khảo sát đầy đủ việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, chưa đảm bảo cơ chế chính sách đào tạo nghề cho lao động vùng đồng bào dân tộc, miền núi. Một số cơ chế, chính sách chưa có sự đột phá nhằm thu hút, đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực trên địa bàn tỉnh. Kết quả thu hút chưa đáp ứng được nguồn nhân lực chất lượng cao cho tỉnh. Chất lượng nguồn nhân lực còn có sự chênh lệch giữa các vùng miền, địa bàn và các lĩnh vực.

Nguồn lực đầu tư chuẩn hóa, hiện đại hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và thực hành còn gặp nhiều khó khăn; công tác quản lý, sử dụng và tu sửa, nâng cấp cơ sở vật chất ở nhiều trường học, cơ sở dạy nghề chưa được quan tâm đúng mức, nhất là tại các trung tâm giáo dục nghề nghiệp cấp huyện. Chất lượng đào tạo lao động kỹ thuật của một số ngành, nghề chưa đáp ứng được nhu cầu và bất cập với thị trường lao động. Ý thức, tinh thần trách nhiệm, nhất là kỹ năng làm việc nhóm của người Nghệ An còn hạn chế. Đội ngũ giáo viên, giảng viên có trình độ cao và có kinh nghiệm còn thiếu, chủ yếu đào tạo lý thuyết, ít thực hành. Cơ chế thu hút, sử dụng và phát huy nguồn nhân lực chưa phù hợp, nhất là lao động có trình độ cao, tay nghề giỏi.

Chưa có tổ chức, cơ quan, đơn vị nghiên cứu và dự báo thị trường lao động, vì thế, dẫn đến bất cập trong tuyển sinh và đào tạo tại các cơ sở đào tạo nghề; trình độ ngoại ngữ của học sinh, sinh viên còn hạn chế; mất cân đối giữa đào tạo và sử dụng. Một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp năng lực chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo lao động kỹ thuật, đào tạo chưa gắn với nhu cầu nhân lực của từng ngành, địa phương và doanh nghiệp.

Để tiếp tục khắc phục những hạn chế và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết thời gian tới cần quan tâm đến một số giải pháp sau: Tiếp tục nâng cao nhận thức của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp về vai trò, ý nghĩa của việc phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội và mục tiêu phát triển của tỉnh. Trước mắt, thực hiện kịp thời, đúng tiến độ và có chất lượng việc xây dựng Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và giáo dục đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 và Đề án Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng nghề giai đoạn 2021-2025 mà Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIX của Đảng bộ tỉnh đã đề ra.

Phát triển, nâng cao chất lượng các cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề; đa dạng hóa các mô hình học tập nhằm tạo môi trường thuận lợi để xây dựng xã hội học tập, giúp cho mọi người dân đều có cơ hội học tập và học tập suốt đời; từng bước hình thành nguồn nhân lực có tính chuyên nghiệp cao, có kỹ năng nghề, kỹ năng ngoại ngữ, tin học, kỹ năng làm việc nhóm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội địa phương và tham gia có uy tín vào thị trường lao động trong nước và thế giới. Bên cạnh đó, cần quan tâm đến chính sách, nội dung chương trình, phương thức đào tạo, truyền đạt kinh nghiệm, kỹ năng đối với lao động vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, khu vực nông nghiệp, nông thôn.

Đảm bảo nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học; tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách tài chính; khuyến khích các cơ sở giáo dục vùng thuận lợi xây dựng phương án tự chủ tài chính. Đồng thời, đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, đào tạo và dạy nghề nhằm thu hút các nguồn lực của xã hội cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Hình thành trung tâm nghiên cứu và dự báo thị trường lao động của tỉnh, trên cơ sở đó, xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động có tính cập nhật cao, có thể dự báo chính xác nhu cầu sử dụng lao động theo ngành nghề, trình độ đào tạo, vị trí việc làm của các doanh nghiệp, khu vực kinh tế và khả năng đáp ứng về đào tạo của các cơ sở đào tạo nghề, giúp cho cả doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và người lao động chủ động hơn trên thị trường lao động.

Quan tâm xây dựng quy hoạch nguồn nhân lực gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Rà soát, đánh giá, quy hoạch nguồn nhân lực theo cơ cấu, vị trí, lĩnh vực... để có kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo phù hợp. Giao trách nhiệm cho người đứng đầu của các cơ quan, đơn vị, địa phương về việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đơn vị mình, góp phần đáp ứng nhu cầu lao động cho các dự án thu hút đầu tư, cũng như lao động trong khu vực nông nghiệp, nông thôn gắn với quy hoạch, gắn kết chặt chẽ với công tác dự báo và nhu cầu doanh nghiệp. Chú trọng hoạt động của tổ chức công đoàn chăm lo đời sống, trình độ chuyên môn và ý thức chính trị của giai cấp công nhân và người lao động.

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị, nhất là xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, hiện đại, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Xây dựng cơ chế, chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài, tăng cường các giải pháp thu hút, huy động nguồn lực người Nghệ An xa quê đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

                              Phạm Công Tứ 

 Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy 

Tin cùng chuyên mục


Kết quả nổi bật qua 05 năm thực hiện Kết luận số 120-KL/TW của Bộ Chính trị ở Nghệ An

Kết quả nổi bật qua 05 năm thực hiện Kết luận số 120-KL/TW của Bộ Chính trị ở Nghệ An


Khu Kinh tế Đông Nam Nghệ An: Cải thiện môi trường đầu tư, tạo động lực phát triển

Khu Kinh tế Đông Nam Nghệ An: Cải thiện môi trường đầu tư, tạo động lực phát triển


Kế quả 3 năm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 08/12/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường công tác bảo vệ môi trường giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2025

Kế quả 3 năm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 08/12/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường công tác bảo vệ môi trường giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2025


Tăng cường các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh

Tăng cường các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh


Kết quả thực hiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động năm 2020, nhiệm vụ, giải pháp năm 2021

Kết quả thực hiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động năm 2020, nhiệm vụ, giải pháp năm 2021


Bài học từ thực tiễn đổi mới, nâng cao chất lượng đánh giá, xếp loại đảng bộ cấp trên cơ sở

Bài học từ thực tiễn đổi mới, nâng cao chất lượng đánh giá, xếp loại đảng bộ cấp trên cơ sở


Công tác luân chuyển, điều động cán bộ lãnh đạo, quản lý tỉnh Nghệ An giai đoạn 2016 - 2020; nhiệm vụ, giải pháp thời gian tới

Công tác luân chuyển, điều động cán bộ lãnh đạo, quản lý tỉnh Nghệ An giai đoạn 2016 - 2020; nhiệm vụ, giải pháp thời gian tới


Những cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả trong tổ chức thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI, XII và Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị ở Đảng bộ tỉnh Nghệ An năm 2020

Những cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả trong tổ chức thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI, XII và Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị ở Đảng bộ tỉnh Nghệ An năm 2020


Nghệ An với nỗ lực giảm nghèo bền vững

Nghệ An với nỗ lực giảm nghèo bền vững


Kết quả công tác dân vận năm 2020 ở Nghệ An

Kết quả công tác dân vận năm 2020 ở Nghệ An


Hội nghị học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX

Hội nghị học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX


Nghệ An qua 10 năm thực hiện Chỉ thị số 21-CT/TU của BTV Tỉnh ủy về tăng cường công tác đào tạo, dạy nghề cho lao động nông thôn

Nghệ An qua 10 năm thực hiện Chỉ thị số 21-CT/TU của BTV Tỉnh ủy về tăng cường công tác đào tạo, dạy nghề cho lao động nông thôn


Kết quả 02 năm thực hiện Quy định số 11-QĐi/TW, ngày 18/02/2019 của Bộ Chính trị ở Quỳnh Lưu

Kết quả 02 năm thực hiện Quy định số 11-QĐi/TW, ngày 18/02/2019 của Bộ Chính trị ở Quỳnh Lưu


Nghệ An sau 10 năm thực hiện Chỉ thị số 46-CT/TW, ngày 27/7/2010 của Ban Bí thư về chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội

Nghệ An sau 10 năm thực hiện Chỉ thị số 46-CT/TW, ngày 27/7/2010 của Ban Bí thư về chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội