Banner Tỉnh ủy Nghệ An (Home-latest-1)

Kết quả nổi bật sau 5 năm thực hiện Đề án 07-ĐA/TU, ngày 30/5/2014 về nâng cao tính gương mẫu, chống tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại trong cán bộ, đảng viên

Sau 5 năm triển khai thực hiện Đề án số 07-ĐA/TU ngày 30/5/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về nâng cao tính gương mẫu, chống tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại trong cán bộ, đảng viên đã đạt được những kết quả nổi bật:

1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nêu gương sáng về tính gương mẫu; phê phán tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại trong cán bộ, đảng viên

Các cấp ủy thường xuyên chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên; đấu tranh phê phán những biểu hiện sa sút, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, vi phạm chuẩn mực đạo đức xã hội; tuyên truyền, biểu dương các phong trào thi đua; gương “người tốt", "việc tốt” của cán bộ, đảng viên, nhân dân trong thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và xây dựng Đảng.

Các cơ quan báo chí của tỉnh đã kịp thời tuyên truyền các chỉ thị, nghị quyết, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; biểu dương các nhân tố mới, điển hình tiên tiến trong các phong trào thi đua yêu nước; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; chủ động đấu tranh, phản bác các thông tin, quan điểm sai trái; phê phán tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại trong cán bộ, đảng viên; làm tốt công tác đền ơn đáp nghĩa, các hoạt động từ thiện trên địa bàn tỉnh.

2. Tăng cường bồi dưỡng, giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao bản lĩnh, phẩm chất đạo đức cách mạng, nhất là nêu cao tính gương mẫu; chống tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại trong cán bộ, đảng viên

Công tác đào tạo, bồi dưỡng, học tập lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên được các cấp ủy quan tâm chỉ đạo và có nhiều chuyển biến tích cực. Việc học tập, nghiên cứu, tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh được tổ chức sâu rộng cho nhiều đối tượng; đa dạng hóa các loại hình đào tạo, bồi dưỡng, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập chính trị của cán bộ, đảng viên. Hàng năm, Trường Chính trị tỉnh, trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện chủ động xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị và tham mưu cấp ủy triển khai thực hiện kế hoạch có chất lượng; đưa những nội dung của Đề án gắn với Quy định số 101-QĐ/TW của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là lãnh đạo chủ chốt các cấp; Quy định số 47-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) về xây dựng Đảng; Chỉ thị số 03-CT/TW nay là Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Chỉ thị số 17-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh vào các chương trình đào tạo, bồi dưỡng; đề cao trách nhiệm tự học, tự nghiên cứu của cá nhân; phát huy tính độc lập, tích cực và vai trò tiên phong, gương mẫu, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương.

3. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nâng cao tính tiền phong gương mẫu; khắc phục, đẩy lùi tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại trong cán bộ, đảng viên

Quan tâm chỉ đạo đổi mới phương thức lãnh đạo cấp ủy các cấp; tiến hành sửa đổi, bổ sung quy định phân cấp quản lý cán bộ, quy chế đánh giá cán bộ, quy chế bổ nhiệm và giới thiệu cán bộ ứng cử. Đặc biệt đã sửa đổi, bổ sung Quy định số 4253-QĐ/TU, ngày 28/5/2013 về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, mối quan hệ công tác của đảng đoàn, ban cán sự đảng các cơ quan cấp tỉnh cùng nhiều văn bản liên quan khác; xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị; gắn trách nhiệm người đứng đầu trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và các phong trào thi đua của địa phương, đơn vị; nâng cao tính gương mẫu; khắc phục, đẩy lùi tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại trong cán bộ, đảng viên; kết quả phân loại cán bộ đối với người đứng đầu gắn với kết quả phân loại công tác chuyên môn, công tác đảng, đoàn thể.

Các cấp ủy quan tâm thực hiện tốt công tác cán bộ, khắc phục những khuyết điểm, hạn chế sau kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) và hội nghị kiểm điểm hàng năm tại địa phương, đơn vị. Công tác quy hoạch lãnh đạo, quản lý ở các cấp thực hiện theo đúng sự chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh, khắc phục được những hạn chế, yếu kém sau kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII).

Nhiều địa phương đã tập trung chỉ đạo và tổ chức đối thoại trực tiếp với nhân dân nhằm kịp thời tháo gỡ những vướng mắc ở cơ sở, góp phần hạn chế tình trạng đơn thư vượt cấp, khiếu nại tố cáo kéo dài trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, các cấp ủy thường xuyên gắn việc rà soát, đánh giá kết quả thực hiện Đề án với công tác kiểm điểm tổng kết hàng năm, kịp thời khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng; phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu, khắc phục tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại trong cán bộ, đảng viên.

Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Đắc Vinh tiếp dân định kỳ

4. Nghiêm túc tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng

Các cấp ủy chỉ đạo tốt việc tự phê bình và phê bình trong Đảng thông qua các kỳ sinh hoạt cấp ủy và sinh hoạt chi bộ hàng tháng. Định kỳ hàng tháng, quý, cán bộ, đảng viên đối chiếu kết quả nhiệm vụ và trách nhiệm được phân công để thực hiện việc tự phê bình và phê bình, làm rõ trách nhiệm cá nhân. Hàng năm, các cấp ủy tiến hành lấy phiếu đánh giá nơi cư trú, nơi công tác của từng cán bộ, đảng viên và yêu cầu cán bộ, đảng viên công khai kế hoạch và kết quả sửa chữa khuyết điểm. Qua kiểm điểm, ý thức tự phê bình và phê bình của đảng viên được nâng lên, phát huy tính tiên phong, gương mẫu của người đảng viên trên từng vị trí công tác. Nhiều đảng bộ cấp trên cơ sở đã làm tốt việc đưa đảng viên công tác trong các phòng, ban, cơ quan, đơn vị và các xã, phường, thị trấn về sinh hoạt đảng tại các chi bộ khu dân cư; nâng cao chất lượng đội ngũ cấp ủy viên, bí thư cấp ủy, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở vững mạnh; đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng ở cơ sở, trọng tâm là nâng cao chất lượng ban hành, tổ chức thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, kế hoạch công tác hàng năm của cấp ủy. Đặc biệt, trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ phát triển kinh tế và công tác xây dựng đảng, 100% cấp ủy từ tỉnh đến cơ sở tuân thủ nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, triển khai thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ ở cơ sở. Qua đó đã tạo sự thống nhất trong đảng, đồng thuận trong xã hội, góp phần tăng cường uy tín của Đảng đối với nhân dân.

Việc tổ chức thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ đạt được những kết quả khá quan trọng. Các cấp ủy đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện cấp trên làm gương cho cấp dưới, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, tập trung giải quyết 3 vấn đề cấp bách của Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và 27 biểu hiện của Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ ra. Việc kiểm điểm tập thể và cá nhân ban thường vụ cấp ủy, tập thể lãnh đạo các cấp hàng năm được tiến hành nghiêm túc, chặt chẽ gắn với việc thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW nay là Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị. Sau kiểm điểm, các cấp ủy đã đề ra giải pháp khắc phục, gắn với chương trình công tác của năm tiếp theo để triển khai thực hiện.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn việc kiểm điểm đối với các huyện, thành, thị, đảng ủy trực thuộc, tập thể lãnh đạo các sở, ban, ngành cấp tỉnh và cơ sở. Các cấp ủy, tập thể lãnh đạo quản lý các cấp đã thực hiện kiểm điểm đúng nội dung, quy trình, tiến độ và thời gian. Sau kiểm điểm các cấp ủy, tập thể và từng cá nhân lãnh đạo, quản lý đã tập trung chỉ đạo giải quyết những vấn đề bức xúc, nổi cộm; xem xét, xử lý những trường hợp vi phạm. Các tập thể, cá nhân được gợi ý, định hướng kiểm điểm của cấp trên đã kiểm điểm nghiêm túc, tự giác nhận trách nhiệm và đề ra giải pháp khắc phục kịp thời.

5. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý kỷ luật góp phần nêu cao tính gương mẫu, khắc phục tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại trong cán bộ, đảng viên

Các cấp ủy đã xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả chương trình kiểm tra, giám sát hàng năm; chú trọng kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, cũng như thực hiện các chương trình, đề án, quy chế làm việc theo nghị quyết đại hội đảng các cấp đề ra. Công tác kiểm tra, giám sát tập trung vào đối tượng, lĩnh vực quan trọng, dễ phát sinh tiêu cực. Sau mỗi cuộc kiểm tra đã giúp cấp ủy, chính quyền các cấp chỉ đạo, ban hành các quy chế quản lý Nhà nước phù hợp với thực tiễn của từng giai đoạn, thời kỳ, đồng thời kiến nghị cấp thẩm quyền sửa đổi, bổ sung một số chế độ, chính sách liên quan đến các lĩnh vực còn bất cập.

Triển khai Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, các cấp uỷ đã tập trung chỉ đạo rà soát, bổ sung, hoàn thiện tiêu chí, chuẩn mực về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh phù hợp chức trách, nhiệm vụ được giao và tình hình thực tiễn từng đơn vị, địa phương. Từ năm 2016 đến năm 2019, hầu hết các địa phương, đơn vị đã hoàn thành việc rà soát, bổ sung, xây dựng và tổ chức thực hiện chuẩn mực đạo đức.

6. Đổi mới cách thức thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, chủ động, sáng tạo và từng bước khắc phục tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự đầu tư từ cấp trên trong cán bộ, đảng viên

Nghệ An đã tích cực đổi mới thu hút đầu tư và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Bên cạnh tập trung khai thác, phát huy tiềm năng, lợi thế, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, tỉnh đã chỉ đạo các cấp, ngành, đơn vị, địa phương huy động mọi nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội. Nhiều tuyến đường giao thông trong quy hoạch được triển khai thực hiện nghiêm túc, trong đó giao thông nông thôn, đặc biệt là miền núi được đầu tư và thu được nhiều kết quả tốt. Nhiều công trình thuỷ lợi đư­ợc nâng cấp, tu bổ kịp thời, góp phần giảm nhẹ ảnh hưởng của thiên tai đối với sản xuất và đời sống nhân dân. Hệ thống hạ tầng đô thị được cải thiện rõ nét, nhất là tại các đô thị lớn; công tác chỉnh trang, phát triển, vệ sinh môi trường được quan tâm góp phần xây dựng hạ tầng đô thị văn minh, hiện đại. Các vùng kinh tế trọng điểm phát triển mạnh: Vùng Hoàng Mai - Quỳnh Lưu gắn với vùng Nam Thanh - Bắc Nghệ; thành phố Vinh - thị xã Cửa Lò, các huyện vùng Đông Nam gắn với vùng Nam Nghệ An - Bắc Hà Tĩnh; miền tây Nghệ An trọng tâm là Nghĩa Đàn, Thái Hòa, Quỳ Hợp, Đô Lương.

Công tác cải cách hành chính được các cấp, ngành, đơn vị, địa phương đẩy mạnh. Tỉnh đã thực hiện cắt giảm từ 20 - 50% thời gian giải quyết các thủ tục hành chính; kịp thời ban hành các quy định liên quan đến lĩnh vực đầu tư, xây dựng và đất đai; hoàn thiện khung pháp lý triển khai các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh; triển khai có hiệu quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông; thực hiện hệ thống phần mềm điện tử liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính cho nhà đầu tư tại các cơ quan trong hệ thống liên thông.

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, các cấp ủy, chính quyền đã tích cực vào cuộc. Nhiều cách làm hay, sáng tạo trong xây dựng nông thôn mới được nhân rộng và phát huy hiệu quả. Nhờ đó, hệ thống hạ tầng nông thôn phát triển mạnh mẽ, làm thay đổi diện mạo nhiều vùng nông thôn, nhất là về giao thông. Phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn được chú trọng và từng bước được nâng lên; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự vùng nông thôn được giữ vững.

Qua 5 năm triển khai thực hiện Đề án, nhận thức của cán bộ, đảng viên đã có những chuyển biến tích cực. Nhìn chung, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, vai trò tiên phong, gương mẫu trong thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Để tiếp tục nâng cao, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu; khắc phục tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại trong cán bộ, đảng viên, trong thời gian tới, các cấp ủy cần triển khai thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

1. Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền triển khai thực hiện Đề án 07-ĐA/TU, ngày 30/5/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về nâng cao tính gương mẫu, chống tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại trong cán bộ, đảng viên.

2. Đổi mới, bổ sung, sửa đổi việc ban hành cơ chế, chính sách đầu tư, hỗ trợ cho các địa phương, các ngành theo hướng kích thích tự chủ, phát huy nội lực (cơ chế tài chính, cơ chế khen thưởng, cơ chế đánh giá...) để các địa phương, các ngành có động lực hơn trong việc chống tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại vào cấp trên, vào ngân sách Nhà nước.

3. Thực hiện tốt các quy định, quy chế về chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ, vai trò nêu gương của người đứng đầu, lãnh đạo chủ chốt phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ và điều kiện thực tế của từng cơ quan, đơn vị.

4. Đổi mới, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức, cán bộ, đảng viên trong thực hiện nêu gương, chống tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại trong cán bộ, đảng viên; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao trình độ nhận thức, dân trí cho nhân dân.

5. Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, công tác quản lý, điều hành của chính quyền, vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là đối với cán bộ, đảng viên là người đứng đầu cơ quan, đơn vị; tăng cường thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tự phê bình và phê bình, khắc phục tư tưởng nể nang, né tránh. Có giải pháp sửa chữa những tồn tại, khuyết điểm của tập thể và cá nhân qua kiểm điểm Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII). Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo quản lý, điều hành của chính quyền các cấp; tăng cường đối thoại với nhân dân, giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc phát sinh từ cơ sở.

6. Nhân rộng, biểu dương những điển hình tiên tiến trong thực hiện các phong trào thi đua yêu nước; các công trình, việc làm thiết thực như "việc làm gương mẫu", "công trình gương mẫu"; tích cực đấu tranh với những biểu hiện, việc làm lệch lạc; đấu tranh chống các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.   

7. Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện nêu gương của cán bộ, đảng viên theo Quy định số 101-QĐ/TW của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp và Quy định số 08-QĐi/TW của Ban Chấp hành Trung ương về tránh nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; Chỉ thị số 17-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh.

8. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội tăng cường giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là giám sát công tác cải cách hành chính, việc thực hiện nhiệm vụ được giao, trách nhiệm nêu gương và việc khắc phục tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại cấp trên. Thực hiện tốt Quyết định số 217-QĐ/TW và Quyết định số 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị về giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.

9. Tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả hội nghị đối thoại giữa cấp ủy, chính quyền với nhân dân; tăng cường giám sát việc giải quyết ý kiến, kiến nghị của người dân sau tiếp xúc cử tri và các hội nghị đối thoại.

10. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý kỷ luật góp phần nêu cao tính gương mẫu, khắc phục tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại trong cán bộ, đảng viên.

Đ.A

Tin cùng chuyên mục

Dự thảo mức hỗ trợ mới nhất cho cán bộ dôi dư sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã, xóm ở Nghệ An

Dự thảo mức hỗ trợ mới nhất cho cán bộ dôi dư sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã, xóm ở Nghệ An


Quỳnh Lưu: Những kết quả nổi bật sau 05 năm thực hiện Chỉ thị số 23 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo

Quỳnh Lưu: Những kết quả nổi bật sau 05 năm thực hiện Chỉ thị số 23 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo


Một số kết quả nổi bật sau 10 năm xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An

Một số kết quả nổi bật sau 10 năm xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An


Thủ tướng: Phải mạnh dạn, quyết tâm, dám đặt mục tiêu cao hơn

Thủ tướng: Phải mạnh dạn, quyết tâm, dám đặt mục tiêu cao hơn


Kết quả sau 3 năm thực hiện Nghị quyết 06-NQ/TU, ngày 14/12/2016 của BCH Đảng bộ tỉnh

Kết quả sau 3 năm thực hiện Nghị quyết 06-NQ/TU, ngày 14/12/2016 của BCH Đảng bộ tỉnh


Triển khai Đề án “sắp xếp cơ sở đảng giai đoạn 2019-2020” trong toàn tỉnh

Triển khai Đề án “sắp xếp cơ sở đảng giai đoạn 2019-2020” trong toàn tỉnh



Nghệ An qua 10 năm thực hiện Chỉ thị số 42 –CT/TW ngày 16/4/2010 của Bộ Chính trị “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam

Nghệ An qua 10 năm thực hiện Chỉ thị số 42 –CT/TW ngày 16/4/2010 của Bộ Chính trị “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam


Chín nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm của ngành Giáo dục và Đào tạo Nghệ An năm học 2019-2020

Chín nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm của ngành Giáo dục và Đào tạo Nghệ An năm học 2019-2020


Kết quả 05 năm thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 09/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước

Kết quả 05 năm thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 09/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước


Kết quả sau 15 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 27/01/2003 của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xuất bản, phát hành sách lý luận, chính trị trong tình hình mới

Kết quả sau 15 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 27/01/2003 của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xuất bản, phát hành sách lý luận, chính trị trong tình hình mới



Kết quả 10 năm thực hiện Kết luận số 62-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội

Kết quả 10 năm thực hiện Kết luận số 62-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội


Kết quả 5 năm thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đào tạo nhân lực có tay nghề cao

Kết quả 5 năm thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đào tạo nhân lực có tay nghề cao


Những chuyển động tích cực của tổ chức bộ máy sau 3 năm thực hiện Nghị quyết 39-NQ/TW của Bộ Chính trị

Những chuyển động tích cực của tổ chức bộ máy sau 3 năm thực hiện Nghị quyết 39-NQ/TW của Bộ Chính trị