Banner Tỉnh ủy Nghệ An (Home-latest-1)

Nghệ An: Tổng kết Nghị quyết số 10-NQ/TU, ngày 04/4/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về đẩy mạnh phát triển sự nghiệp y tế đến năm 2020

Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp đối với sự nghiệp y tế; nâng cao năng lực công tác truyền thông bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân; đẩy mạnh công tác y tế dự phòng, an toàn thực phẩm, dân số và phát triển; nâng cao chất lượng công tác khám, chữa bệnh; tăng cường quản lý dược và trang thiết bị y tế; đẩy mạnh phát triển bảo hiểm y tế toàn dân

Nghệ An là tỉnh có địa bàn rộng nhất cả nước (với trên 16.490 km2), dân số đông (hơn 3,3 triệu người), đời sống của nhân dân, nhất là vùng miền núi còn nhiều khó khăn, nhưng với quyết tâm của cấp ủy đảng, chính quyền và cả hệ thống chính trị, đặc biệt là sự nỗ lực của ngành y tế (tuyến tỉnh có 18 bệnh viện, trung tâm; tuyến huyện có 28 bệnh viện, trung tâm; tuyến xã có 460 trạm y tế. Ngoài ra, có 16 bệnh viện ngoài công lập; 2.883 cơ sở y dược tư nhân; 05 bệnh việc thuộc bộ, ngành đóng trên địa bàn…), công tác khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều chuyển biến rõ nét và từng bước khẳng định vị trí trong vùng Bắc Trung bộ, đã đạt được nhiều kết quả tích cực:

Công tác phổ biến, quán triệt, tuyên truyền, triển khai và cụ thể hóa thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TU, ngày 04/4/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về đẩy mạnh phát triển sự nghiệp y tế đến năm 2020 (nghị quyết) đã được các cấp ủy, tổ chức đảng quan tâm đúng mức, kịp thời; nhiều văn bản đã được ban hành để lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức kiểm tra, sơ, tổng kết việc thực hiện nghị quyết. Chính quyền các cấp đã xây dựng các chương trình, kế hoạch thực hiện nghị quyết cũng như tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với công tác y tế trên địa bàn.

Toàn tỉnh đã cơ bản thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra: Có 05 chỉ tiêu vượt (10/8,5 bác sĩ/vạn dân, 34,9/30 giường bệnh/vạn dân, 92,5/75% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, 16,5/17,5% trẻ em dưới 05 tuổi suy dinh dưỡng, 91/80% người tham gia bảo hiểm y tế toàn dân). Có 02 chỉ tiêu đạt (mức giảm tỷ lệ sinh hàng năm 0,3%, tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 01 tuổi dưới 95%). Có 02 chỉ tiêu gần đạt (tỷ lệ tăng dân số tự nhiên10,2/10%0, tỷ lệ bác sỹ công tác tại trạm y tế xã, phường, thị trấn 90,8/95).

Phát triển và hoàn thiện hệ thống khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh theo từng tuyến và giữa các tuyến, kết hợp phân tuyến với phân hạng kỹ thuật đảm bảo tính hệ thống, liên tục về cấp độ chuyên môn; bố trí cơ sở khám, chữa bệnh theo địa bàn dân cư, đặc biệt tuyến xã. Nguồn lực đầu tư cho y tế xây dựng cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị các công trình y tế trọng yếu, đào tạo… được quan tâm, tăng ngân sách chi thường xuyên cho ngành y tế, đảm bảo kinh phí đầu tư phát triển sự nghiệp y tế hàng năm từ 9% đến 10% GDP của tỉnh. Công tác xã hội hóa về y tế được quan tâm: Đến năm 2020, số cơ sở hành nghề y ngoài công lập có 16 bệnh viện, 1.974 giường bệnh, đầu tư 2.060 tỉ đồng; có 25/35 đơn vị khám chữa bệnh thực hiện xã hội hóa trang thiết bị y tế theo hình thức liên doanh, liên kết, góp vốn, thuê thiết bị... Tổng số trang thiết bị xã hội hóa từ khi triển khai đến năm 2020 là 142 máy với số tiền 232 tỉ đồng. Toàn tỉnh có 46 đơn vị sự nghiệp, trong đó 01 đơn vị tự chủ chi thường xuyên và đầu tư phát triển (nhóm I), 18 đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên (nhóm II), 16 đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (nhóm III), 11 đơn vị đặc thù làm nhiệm vụ dự phòng do ngân sách nhà nước đảm bảo chi thường xuyên. Số lượng người làm việc tăng 116% so với năm 2016, đến năm 2020 có 6.598 người, chiếm 52,8% biên chế cả ngành (12.457 người), số biên chế này không hưởng lương từ ngân sách nhà nước mà do đơn vị trả lương. Tăng cường hợp tác quốc tế, tranh thủ các nguồn đầu tư nước ngoài như: Vốn vay ODA, nguồn viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và cá nhân nước ngoài...

Đã có 1.254 cán bộ, nhân viên y tế được đào tạo, đào tạo lại, tập huấn, bồi dưỡng, cập nhật các kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý (trong đó có 11 phó giáo sư, 145 tiến sỹ/chuyên khoa II, 795 thạc sỹ/chuyên khoa I, 1.028 bác sỹ và 302 dược sỹ đại học. Có 25 đề tài cấp tỉnh, có 300 đề tài và sáng kiến cấp cơ sở/năm; các đề tài, sáng kiến áp dụng các thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại trong khám, chữa bệnh như: phẩu thuật tim hở, can thiệp tim mạch, can thiệp mạch não, ghép thận, ghép giác mạc, thụ tinh trong ống nghiệm…

Chất lượng hoạt động hệ thống y tế dự phòng và truyền thông giáo dục sức khỏe, vệ sinh an toàn thực phẩm đạt được nhiều kết quả tích cực, nhiều mô hình phát huy hiệu quả. Ban hành nhiều chính sách hỗ trợ kinh phí cấp thẻ bảo hiểm y tế và phát hành hành thẻ bảo hiểm y tế cho các đối tượng chính sách. Đã triển khai thực hiện việc bảo tồn và khai thác cây dược liệu tự nhiên gồm: 38 loài cây thuốc thuộc diện bảo tồn và các nguồn gen cây thuốc đặc hữu, quý hiếm, có giá trị tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên và khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An, với diện tích trồng trên 1000ha. Đầu tư hàng nghìn tỷ đồng xây dựng nhà máy sản xuất thuốc cao cấp vùng Phủ Quỳ và nhà máy sản xuất dịch truyền tại Khu công nghiệp Bắc Vinh...

Cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin được quan tâm đẩy mạnh. Rà soát thủ tục hành chính của 111 đơn vị thuộc ngành y tế; đã bãi bỏ giảm 03 thủ tục hành chính, thêm mới 01 thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm; bãi bỏ 02 thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực dược phẩm. Rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính như: Thời gian cấp, cấp lại, cấp điều chỉnh chứng chỉ hành nghề khám chữa bệnh từ 30 ngày xuống còn 27 ngày (giảm 10%); cấp mới chứng chỉ hành nghề dược từ 15 ngày xuống còn 13 ngày (giảm 13,4%); cấp giấy phép GPP/GDP cho các cơ sở kinh doanh thuốc dạng phối hợp có chứa chất hướng thần, gây nghiện, phóng xạ và tiền chất từ 50 ngày xuống còn 45 ngày (giảm 10%). Kết quả, đến năm 2020, toàn ngành y tế đã có hơn 700 chứng thư số tập thể, cá nhân; 100% các cơ sở khám, chữa bệnh từ tỉnh, huyện, xã đã triển khai phần mềm quản lý khám, chữa bệnh và thanh toán bảo hiểm y tế, sử dụng hệ thống quét mã vạch thẻ bảo hiểm y tế; 100% các cơ sở khám, chữa bệnh đã kết nối, liên thông dữ liệu với Cổng tiếp nhận dữ liệu thông tin giám định bảo hiểm y tế của Bảo hiểm xã hội Việt Nam...

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn còn một số hạn chế: Việc triển khai và tổ chức thực hiện nghị quyết ở một số địa phương chưa kịp thời. Công tác truyền thông bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân chưa thật sự hiệu quả ở một số nơi, nhất là ở miền núi, vùng xa, vùng biên giới. Chất lượng khám, chữa bệnh, phát triển kỹ thuật mới ở một số cơ sở khám chữa bệnh còn nhiều hạn chế. Việc chuyển giao kỹ thuật từ tuyến trên cho tuyến dưới triển khai chưa nhiều, nhất là ở các huyện miền núi. Công tác quản lý hành nghề y dược chưa chặt chẽ. Đội ngũ bác sĩ còn thiếu nhiều ở vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa; thu hút đội ngũ bác sĩ về công tác tại các trạm y tế xã, phường, thị trấn còn gặp nhiều khó khăn. nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và trang thiết bị cho ngành y tế còn thấp, nhất là trong công tác y tế dự phòng, khám chữa bệnh còn ít; thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT còn chậm. Công tác ATTP còn nhiều hạn chế.

Nguyên nhân: Một số cấp ủy đảng, chính quyền chưa tập trung cao trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện có hiệu quả nghị quyết. Công tác truyền thông còn gặp nhiều khó khăn do địa bàn rộng, kinh phí hạn hẹp. Một số đơn vị miền núi khó áp dụng khám, chữa bệnh tự chủ về tài chính theo Nghị định số 43/NĐ-CP của Chính phủ. Chế độ tiền lương và đãi ngộ cho đội ngũ cán bộ, viên chức y tế còn thấp so với mặt bằng chung và so với tính chất công việc. Việc thực hiện thanh toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế còn nhiều vướng mắc; các hướng dẫn từ cơ quan Trung ương chưa kịp thời, có nội dung chồng chéo, thiếu thống nhất. Mất cân đối nguồn thu với chi bảo hiểm y tế tại địa phương dẫn đến tình trạng cấp ứng nguồn kinh phí cho các cơ sở khám chữa bệnh chậm, làm khó khăn cho các cơ sở khám chữa bệnh trong thực hiện chăm sóc sức khỏe nhân dân. Công tác xử lý sau kiểm tra, thanh tra vẫn chưa thực hiện nghiêm…

Trong thời gian tới, tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp đối với sự nghiệp y tế; nâng cao năng lực công tác truyền thông bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân; đẩy mạnh công tác y tế dự phòng, an toàn thực phẩm, dân số và phát triển; nâng cao chất lượng công tác khám, chữa bệnh; tăng cường quản lý dược và trang thiết bị y tế; đẩy mạnh phát triển bảo hiểm y tế toàn dân; đổi mới công tác tài chính và đầu tư; củng cố, hoàn thiện mạng lưới y tế và phát triển nguồn nhân lực; đẩy mạnh cải cách hành chính và ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực y tế…

Cao Nguyên Hùng 

Văn phòng Tỉnh ủy 

Tin cùng chuyên mục

Đổi mới và phát triển kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn gắn với mục tiêu xây dựng nông thôn mới tỉnh Nghệ An

Đổi mới và phát triển kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn gắn với mục tiêu xây dựng nông thôn mới tỉnh Nghệ An


Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025

Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025


Một số kết quả nổi bật sau 05 năm thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU

Một số kết quả nổi bật sau 05 năm thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU


Kết quả thực hiện “Năm quy chế dân chủ cơ sở” 2021 ở Nghệ An

Kết quả thực hiện “Năm quy chế dân chủ cơ sở” 2021 ở Nghệ An


Tin tưởng và kỳ vọng Nghệ An sẽ tiếp tục có những bước phát triển vượt bậc mới, vững chắc trong năm 2022 (*)

Tin tưởng và kỳ vọng Nghệ An sẽ tiếp tục có những bước phát triển vượt bậc mới, vững chắc trong năm 2022 (*)


Hoàng Mai: Kết quả 7 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TU, ngày 18/9/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy

Hoàng Mai: Kết quả 7 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TU, ngày 18/9/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy


Những kết quả tích cực sau 10 năm thực hiện Chỉ thị số 10-CT/TW, ngày 05/12/2011 của Bộ Chính trị

Những kết quả tích cực sau 10 năm thực hiện Chỉ thị số 10-CT/TW, ngày 05/12/2011 của Bộ Chính trị


Tương Dương xây dựng con người văn hóa, gia đình văn hóa Nghệ An đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển

Tương Dương xây dựng con người văn hóa, gia đình văn hóa Nghệ An đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển


Nghi Lộc: Kết quả thực hiện Nghị quyết 05-NQ/TU về xây dựng con người văn hóa, gia đình văn hóa đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển

Nghi Lộc: Kết quả thực hiện Nghị quyết 05-NQ/TU về xây dựng con người văn hóa, gia đình văn hóa đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển


Kết quả 10 năm thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW, của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân ở Nghệ An

Kết quả 10 năm thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW, của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân ở Nghệ An


Nghệ An: Kiên trì sắp xếp bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả

Nghệ An: Kiên trì sắp xếp bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả


Kết quả thực hiện Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước” tại Nghệ An

Kết quả thực hiện Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước” tại Nghệ An




Nghệ An: Kết quả triển khai thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW, ngày 20/01/2010 của Ban Bí thư về tăng cường quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam

Nghệ An: Kết quả triển khai thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW, ngày 20/01/2010 của Ban Bí thư về tăng cường quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam